|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/DS-PT Ngày 03 - 01 - 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các thẩm phán: Ông Trần Bá Kha
Bà Đặng Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh T - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 207/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2023/QĐPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; địa chỉ: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1968; địa chỉ: Hẻm I đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang; trụ sở: Khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1 - Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn S; Chức vụ: Phó phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
2. Vườn Quốc Gia thành phố P, tỉnh Kiên Giang; trụ sở: Ấp X, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
3. Hạt Kiểm lâm thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Long H2 – Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm thành phố P.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng C - Chức vụ: Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thành phố P (có mặt).
4. Ủy ban nhân dân xã D, thành phố P; trụ sở: ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Võ Hồng L; Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, thành phố P, tỉnh kiên G (có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970 (vợ ông H); địa chỉ: Hẻm I đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có yêu cầu xin vắng mặt).
7. Chị Trần Thị Mỹ H3, sinh năm 1981 (Con bà M), (có đơn xin vắng mặt).
8. Anh Trần Thanh V, sinh năm 1983 (con bà M).
9. Anh Trần Quốc T2, sinh năm 1986 (con bà M).
10. Chị Trần Thị Kim C1, sinh năm 1991 (con bà M).
Cùng địa chỉ: ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh V, anh T2 và chị C1: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Trần Văn H – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/3/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà chung sống với ông Trần Văn B có 4 người con chung là Trần Thị Mỹ H3, Trần Thanh V, Trần Quốc T2 và Trần Thị Kim C1. Năm 1980, gia đình bà thuộc diện chính sách có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở và đất sản xuất nên Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang giải quyết phát mãi bán cho gia đình bà một thửa đất vườn, trên đất có một căn nhà cấp 4 (đất không có diện tích) tọa lạc tại ấp C, xã D, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang.
Nguồn gốc đất là của người trốn đi nước ngoài do Nhà nước quản lý. Khi được giao đất vườn trên đất có căn nhà cấp 4, xung quanh đất có trồng dừa và vườn tiêu diện tích khoảng 23.000m². Đến ngày 26/6/1986, Ủy ban nhân dân huyện P chính thức ra Quyết định bán căn nhà và đất vườn cho bà và bà đã thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước xong. Năm 1980 -1982, bà tiếp tục khai phá thêm diện tích đất hoang liền kề với thửa đất bà mua tổng cộng diện tích khoảng 30.000m². Năm 1984, bà đã tặng cho em bà là ông Bùi Văn V1 diện tích 7.200m². Năm 1990, bà chuyển nhượng cho ông Huỳnh Long Đ diện tích 15.574,2m² để trừ nợ 10.000.000 đồng theo bản án của Toà án huyện Phú Quốc (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Diện tích đất còn lại bà sử dụng ổn định liên tục đến nay. Nay bà M khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Công nhận diện tích đất 3.238,3m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà.
Bị đơn ông Trần Văn H trình bày:
Năm 2001, anh phát dọn thửa đất hiện nay đang tranh chấp với bà M. Khi phát dọn, thì tranh chấp với ông Bùi Văn V1, được ban lãnh đạo ấp hòa giải hai
bên thống nhất ranh giới có ông Huỳnh Long Đ chứng kiến. Năm 2003, ông bị H6 biên bản vi phạm hành chính về hành vi phá rừng trái phép diện tích 2.040m² và bị xử phạt 200.000 đồng. Năm 2009, ông yêu cầu Ban quản lý rừng xác định ranh giới rừng, thì được trả lời phần đất này trên sơ đồ đứng tên bà Nguyễn Thị M.
Nay ông phản tố yêu cầu Toà án giải quyết: Bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của bà M. Không công nhận diện tích 2.021,4m² thuộc sở hữu của bà M; công nhận diện tích đất 2.021,4m² thuộc tổ E, ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang không có mặt nên không có ý kiến trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vườn Quốc Gia thành phố P, tỉnh Kiên Giang trành bày: Đề nghị Toà án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hạt kiểm Lâm thành phố P do ông Nguyễn Hồng C đại diện theo pháp luật trình bày:
Trong hồ sơ xử phạt hành chính có vẽ sơ đồ khu vực rừng bị thiệt hại. Tuy nhiên, tại thời điểm này chưa sử dụng máy đo đạc (máy GPS) để xác định vị trí, diện tích vi phạm. Do vậy, vị trí vi phạm theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 200/KL- QĐ ngày 13/11/2003 đối với ông Trần Văn H hiện nay Hạt kiểm L không xác định được vị trí vi phạm có nằm trong sơ đồ số: 114/2002 ngày 24/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P hay không.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã D có công văn trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là do bà M khai khẩn từ năm 2007 - 2008, bà M kê khai đo đạc đại trà và được đo đạc bản đồ địa chính thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.336,1m² (trong đó, có phần đất tranh chấp) vào sổ mục kê đất đai của xã D ngày 20/9/2011, bà M quản lý sử dụng cho đến nay không nằm trong dự án quy hoạch. Trường hợp có tổ chức hay cá nhân nào đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì được Ủy ban nhân dân xã X đủ điều kiện cấp giấy theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Phần đất mà ông Trần Văn H chồng bà tranh chấp với bà Nguyễn Thị M có trước khi bà chung sống với ông H nên chị không có liên quan gì trong phần đất này. Bà yêu cầu Toà án không đưa bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Văn B là chị Trần Thị Mỹ H3, anh Trần Thanh V, anh Trần Quốc T2 và chị Trần Thị Kim C1 trình bày: Thống nhất theo ý kiến của bà Nguyễn Thị M.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông H.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, Luật sư Bùi Kim Đ1 trình bày: Lời khai trình bày của ông Trần Văn H có nhiều
mâu thuẫn và ông H cũng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình, mặt khác ông H có hành vi phá rừng trái phép. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông H, công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế là 2.021,4m² cho bà M được sử dụng.
- Bị đơn ông Trần Văn H trình bày: Ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét Quyết định bán đất của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) có nội dung bán nhà cho cho bà M, trong quyết định không có bán đất vườn cho bà M, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận diện tích đất theo đo đạc thực tế là 2.021,4m² cho ông H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn là ông Trần Văn H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Bác yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Trần Văn H đối với nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M.
- Tạm giao cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M được quyền sử dụng diện tích đất là 3.238,3m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, tọa tại ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo đo đạc thực tế là 3.287,7m², trong đó có diện tích 2.021,4m² bà M tranh chấp với ông H. Vị trí đất được thể hiện theo tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số: TĐ 114/2022 ngày 24/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Kiên Giang (kèm theo).
Ngoài ra bản án còn quyết định chi phí tố tụng về án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 bị đơn ông Trần Văn H có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng như sau:
- Sửa hoặc hủy Bản án sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn H; Bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư Bùi Kim Đ1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn anh Trần Văn H; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị M thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của Luật Bùi Kim Đ1. Yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Phía bị đơn ông Trần Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn anh Trần Văn H về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271,272,273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét thấy, tại phiên toà sơ nguyên đơn bà Nguyễn Thị M yêu cầu công nhận diện tích đất 3.238,3m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo đo đạc thực tế là 2.021,4m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp cho bà M. Tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn H phản tố yêu cầu bác toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không công nhận diện tích 2.021,4m² thuộc sở hữu cho nguyên đơn; công nhận diện tích đất 2.021,4m² thuộc tổ E, ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng cho ông H.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M: Nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 3.238,3m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, theo đo đạc thực tế là 3.287,7m², trong đó diện tích tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M với ông Trần Văn H là 2.021,4m². Xét thấy: Qua xác minh, thu thập chứng cứ của người làm chứng như ông Đỗ Thanh D, ông Đỗ Quang D1 là Công an viên xã D, thành phố P và ông Nguyễn Văn C2 nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã D, thành phố P đều là người cùng xóm với bà M xác định: Bà M là gia đình chính sách nên Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang quyết định bán phần đất thu hồi của người vượt biên để lại cho bà M. Thửa đất vườn tiêu (trên đất có căn nhà cấp 4) diện tích bao nhiêu thì trong quyết định không ghi cụ thể. Sau khi nhận đất gia đình bà M canh tác thêm diện tích đất liền kề để trồng tràm bông vàng (là phần đất tranh chấp với ông H). Trước đây bà M có nợ ông Huỳnh Long Đ một số tiền nên bà M có bán cho ông Đ một phần đất để trừ nợ. Còn ông H là cháu ruột của ông Đ từ đất liền đến ở nhờ trên đất ông Đ nên ông H không có canh tác gì trên phần đất tranh chấp này (Bút lục 168, 170).
[3.1] Theo Quyết định ngày 26/6/1986 của Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang có nội dung: Đồng ý bán ngôi nhà – Vườn tọa lạc tại ấp C, xã D, huyện P, nhà của người trốn đi nước ngoài để lại nay bán cho bà Nguyễn Thị Mạnh thường t tại ấp C, xã D, huyện P (bút lục số 14); Căn cứ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ ông Bùi Văn V1, hộ ông Đinh Văn H4 và ông Huỳnh Long Đ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cung cấp đều thể hiện đất của các ông nói trên đều giáp ranh với đất bà M.
[3.2] Theo Công văn số 180/CV-UBND ngày 01/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã D có nội dung: Nguồn gốc đất tranh chấp là do bà M khai khẩn từ năm 2007 - 2008, bà M Kê Khai đo đạc đại trà và được đo đạc bản đồ địa chính thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.336,1m² (trong đó, có phần đất tranh chấp) vào sổ mục kê đất đai của xã D ngày 20/9/2011, bà M quản lý sử dụng cho đến nay không nằm trong dự án quy hoạch. Trường hợp có tổ chức hay cá nhân nào đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì được Ủy ban nhân dân xã X đủ điều kiện cấp giấy theo quy định của pháp luật (bút lục 119).
[3.3] Căn cứ công văn số: 125/CV-KL ngày 31/7/2023 của Hạt Kiểm lâm thành phố P có nội dung: Năm 2023, Chi cục kiểm lâm tỉnh K có thành lập đoàn kiểm tra, truy quét tại huyện P, tỉnh Kiên Giang. Ngày 13/11/2003, Hạt kiểm lâm huyện P có ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 200/KL-QĐ đối với ông Trần Văn H với hành vi phá rừng trái phép. Trong hồ sơ xử phạt hành chính có vẽ sơ đồ khu vực rừng bị thiệt hại. Tuy nhiên, tại thời điểm này chưa sử dụng máy đo đạc (máy GPS) để xác định vị trí, diện tích vi phạm. Do vậy, vị trí đất xử phạt đối với ông H hiện nay Hạt kiểm lâm thành phố P không xác định được do khi đó, xác định bằng thước dây và qua thời gian đã lâu, nhiều giai đoạn nên hiện nay không xác định được vị trí vi phạm có nằm trong sơ đồ trích đo trí đo số 114/2022 ngày 24/02/2022, của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P hay không (bút lục 188, 189).
Như vậy, từ những chứng cứ nêu trên, có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp là 2.021,4m², thuộc thửa số 04, tờ bản đồ số 08 tọa lạc tại ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang là của bà M. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M là có cơ sở.
[4] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn anh Trần Văn H: Qua xác minh, thu thập chứng cứ của người làm chứng như ông Huỳnh Long Đ, ông Phạm Văn T3 đều xác nhận nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Dương Văn Đ2 (đã chết) cho ông H đến khai khẩn và trồng cây ăn trái. Quá trình khai khẩn ông H có phát dọn lấn chiếm vào rừng phòng hộ nên bị H6 biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H. Đất của ông H giáp với đất ông Đ và bà M1. Năm 2007 - 2008, ông T3 có đến phần đất của vợ chồng ông V1, bà M1 khảo sát để giải quyết tranh chấp đất giữa ông H với vợ chồng ông V1, bà M1 thì ông H vẫn là người quản lý phần đất giáp ranh đất của vợ chồng ông V1, bà M1. Năm 2010, bà M thuê người cắt hạ cây trồng trên phần đất của ông H để trồng tràm, thì ông H tranh chấp (bút lục 167). Xét thấy, lời khai của ông T3 chỉ bằng lời nói, không cung cấp được chứng cứ, chứng minh. Còn đối với lời khai của ông Đ, thì ông Đ là bà con chú bác ruột với
ông H nên lời khai của ông Đ không khách quan và cũng không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh cho lời nói của mình. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Căn cứ tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số: TĐ 114/2022 ngày 24/02/2022 của Chi nhánh văn phòng Đ, tỉnh Kiên Giang, thể hiện diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.287,7m², trong đó có diện tích 2.021,4m² bà M tranh chấp với ông H.
[6] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần văn H5. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H5 không có cung cấp thêm chứng cứ gì để chứng minh là việc kháng cáo của ông là có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông H5 như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.
Từ những nhận định nêu trên nên trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Trần Văn H; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[7] Chi phí tố tụng: Tổng cộng số tiền là 24.058.400 đồng (trong đó, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.058.400 đồng; Chi phí định giá tài sản là 22.000.000 đồng; Lệ phí pho to hồ sơ cấp giấy 1.000.000 đồng). Ông H yêu cầu phản tố không được chấp nhận nên ông H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này. Bà M đã tạm ứng trước nên ông H phải hoàn trả lại cho bà M số tiền trên.
[8] Vế án phí
[8.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị M là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định. Do đó, bà M không có nộp tạm ứng án phí nên không có hoàn trả. Ông H yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của hai yêu cầu là 600.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0006446 ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[8.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của ông Trần Văn H không được chấp nhận, nên ông H phải phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009498 ngày 28/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Trần văn H5.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2023/DS-ST ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 101 Điều 166 Luật Đất đai 2013; Điều 20, Điều 21 và Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M đối với bị đơn là anh Trần Văn H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Bác yêu cầu phản tố của bị đơn là anh Trần Văn H đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
- Bà Nguyễn Thị M được tiếp tục sử dụng diện tích đất là 3.238,3m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Theo đo đạc thực tế là 3.287,7m², trong đó có diện tích 2.021,4m² bà M tranh chấp với ông H. Vị trí đất được thể hiện theo tờ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số: TĐ 114/2022 ngày 24/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Kiên Giang (kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Tổng cộng số tiền là 24.058.400 đồng (trong đó, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.058.400 đồng; Chi phí định giá tài sản là 22.000.000 đồng; Lệ phí pho to hồ sơ cấp giấy 1.000.000 đồng). Ông H yêu cầu phản tố không được chấp nhận nên anh H phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng này. Bà M đã tạm ứng trước nên anh H phải hoàn trả lại cho bà M số tiền trên.
- Vế án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà M là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định; Ông H yêu cầu phản tố không được Toà án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của hai yêu cầu là 600.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0006446 ngày 21/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (xem như ông H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Kháng cáo của ông Trần Văn H không được chấp nhận, nên ông H phải án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009498 ngày 28/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (xem như ông H đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 01/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà M tranh chấp quyền sử dụng đất với ông H
