TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/DS-PT Ngày 03-01-2024 “Kiện đòi tài sản " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà
Các Thẩm phán
Ông Lê Đình Nam
Ông Trần Văn Thưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà:
Ông Đoàn Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2023/TLPT-DS ngày 9 tháng 10 năm 2023 về việc “Kiện đòi tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS -ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn H; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Trần Mạnh Đ; địa chỉ: A H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T; địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn là ông Trần Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Nguyên đơn là ông Huỳnh Văn H trình bày:
Ngày 03/6/2022, ông Trần Văn T mượn ông số tiền 150.000.000đ. Thông qua ngân hàng N (A) huyện C, tỉnh Gia Lai, ông chuyển vào số tài khoản 5024205021084 cho ông T số tiền 150.000.000đ. Hai bên thỏa thuận khi nào ông cần thì ông báo trước cho ông T một thời gian thì ông T sẽ trả lại cho ông số tiền 150.000.000đ.
Đến ngày 14/11/2022, ông cần tiền nên báo với ông T trong 10 ngày trả tiền cho ông (ông có làm thông báo gửi ông T). Sau đó, ông đã nhiều lần gọi điện, đến nhà đòi nhưng ông T vẫn không trả tiền cho ông.
Nay, ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh giải quyết buộc ông Trần Văn T trả cho ông số tiền là 150.000.000đ, ông không yêu cầu lãi suất. Sự việc mượn tiền giữa ông và ông T không liên quan gì đến vợ của ông là bà Lê Thị M và vợ ông Trần Văn T. Ông và bà Lê Thị M đề nghị Tòa án không đưa bà M và vợ ông T tham gia tố tụng trong vụ án này.
2.Bị đơn là ông Trần Văn T trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông không có mượn tiền của ông H. Số tiền 150.000.000 đồng mà ông H chuyển vào tài khoản của ông mở tại Ngân hàng N vào ngày 03/6/2022 là số tiền ông H chuyển trả nợ cho ông vì trước đây ông và ông H làm ăn với nhau nên ông H còn nợ ông 150.000.000₫.
3.Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS -ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
-Áp dụng các Điều 116; 119; 138; 274; 275; 280; 351; 357; 463, 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự;
-Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc ông Trần Văn T phải có trách nhiệm trả cho ông Huỳnh Văn H số tiền là 150.000.000đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 15-8-2023, bị đơn là ông Trần Văn T kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
4.Tại phiên toà phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Bị đơn là ông T giữ nguyên kháng cáo; ông T cho rằng mình không nợ của ông H 150.000.000 đồng. Số tiền trên là do ông H nợ ông rồi gửi tiền vào tài khoản trả cho ông mà thôi.
5.Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định về việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo như sau:
1.Ông H khởi kiện yêu cầu ông T trả cho ông 150.000.000 đồng để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình ông H cung cấp cho Tòa án một “Giấy nộp tiền” của Ngân hàng N Chi nhánh huyện C, tỉnh Gia Lai với nội dung ông H chuyển vào tài khoản của ông T số tiền 150.000.000 đồng.
Ông T cho rằng mình không vay tiền của ông H. Số tiền ông H chuyển vào tài khoản của ông là do ông H trả nợ cho ông. Vì trước đây ông và ông H có làm ăn chung với nhau và ông H còn nợ ông 150.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án ông T không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông H và ông có làm ăn chung với nhau. Ông H vay tiền của ông, và ông H chuyển tiền vào tài khoản là để trả cho ông.
Việc ông T nhận tiền của ông H là có thật, căn cứ theo Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng vay không nhất thiết phải được lập thành văn bản mà có thể được giao kết bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể. Do đó, việc ông T cho rằng nếu ông có vay mượn tiền của ông H thì phải thể hiện bằng văn bản mới có giá trị là không có cơ sở. Căn cứ vào quy định nêu trên thì việc ngày 3-6-2022 ông H chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản của ông T là có thật, ông T cũng thừa nhận có sự việc này.
Ông T kháng cáo nhưng lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh giữa ông và ông H có làm ăn chung với nhau và ông H nợ ông 150.000.000 đồng.
2.Từ những nhận định nêu trên xét thấy kháng cáo của bị đơn ông T là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm
3.Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 308; của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 116; 119; 138; 274; 275; 280; 351; 357; 463, 466 và Điều 469 của Bộ luật Dân sự;
Tuyên xử :
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Trần Văn T giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS -ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
- Buộc ông Trần Văn T phải có trách nhiệm trả cho ông Huỳnh Văn H số tiền là 150.000.000đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-Buộc ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 đồng, để sung quỹ nhà nước.
-Ông Huỳnh Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hoàn trả lại cho ông H 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo B lại thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001213 ngày 06-12-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
Ông Trần Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001427 ngày 30-8-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Ông T đã nộp đủ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 01/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi lại tài sản
