Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-01-2024

V/v Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Cơ Ba.
  2. Ông Nguyễn Trung Du.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2023/QĐXX-ST ngày 15 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 138/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị La Thị Huỳnh N – sinh năm: 1976 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
  • Chỗ ở hiện nay: Số 844, Quốc lộ 1K, Khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
  • - Bị đơn: anh Bùi Văn L – sinh năm: 1976 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2023 và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn chị La Thị Huỳnh N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn L chung sống với nhau vào năm 1994, hôn nhân tự nguyện, do quen biết trước, được cha mẹ hai bên thừa nhận, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 19/6/2002.

Sau ngày cưới, chị và anh L sống chung với cha mẹ ruột anh L được khoảng 03 năm thì ra sống riêng tư tại ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L làm ăn thất bại nợ nần dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, anh L thường xuyên đánh chị N. Chị N có khuyên nhưng anh L không thay đổi. Chị và anh L đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Bùi Văn L.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Bùi Thị Phương T, sinh ngày 11/02/1996, Bùi Thị Thảo L – sinh ngày 10/5/2002 và Bùi Anh D – sinh ngày 10/10/2007. Khi ly hôn, do cháu Phương T và Thảo L đã thành niên nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết; Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Anh D và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Anh D.

- Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả của vợ chồng: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Bùi Văn L:

Anh Bùi Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân giữa chị và anh Bùi Văn L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Xét thấy, anh Bùi Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do. Ngày 02 tháng 01 năm 2024, chị N có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị N, anh L theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh L chung sống với nhau vào năm 1994, hôn nhân tự nguyện, do quen biết trước, được cha mẹ hai bên thừa nhận, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 19/6/2002 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, chị N trình bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L làm ăn thất bại nợ nần dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, anh L thường xuyên đánh chị N. Chị N có khuyên nhưng anh L không thay đổi. Chị và anh L đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ và thực hiện các công việc của gia đình. Thực tế, giữa chị N và anh L không còn quan tâm chăm sóc nhau, không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng. Qua đó cho thấy, hôn nhân giữa chị N và anh L lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Có 03 con chung tên Bùi Thị Phương T, sinh ngày 11/02/1996, Bùi Thị Thảo L – sinh ngày 10/5/2002 và Bùi Anh D – sinh ngày 10/10/2007.

Khi ly hôn, do cháu Phương T và Thảo L đã thành niên nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Anh D. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Bùi Anh D đang sống cùng chị N cuộc sống của cháu ổn định, sức khỏe bình thường, điều kiện sống của chị N đảm bảo thuận tiện cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Do đó, khi ly hôn giao cháu Bùi Anh D cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Bùi Anh D và phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Anh D nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả của vợ chồng: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải nộp án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, 51, 53; 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị La Thị Huỳnh N.

Về hôn nhân: Cho chị La Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Bùi Văn L.

Về con chung: Do cháu Bùi Thị Phương T, sinh ngày 11/02/1996 và cháu Bùi Thị Thảo L – sinh ngày 10/5/2002 đã thành niên, chị La Thị Huỳnh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Giao cháu Bùi Anh D – sinh ngày 10/10/2007 cho chị La Thị Huỳnh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Bùi Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung và nợ chung phải thu, phải trả: Chị La Thị Huỳnh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị La Thị Huỳnh N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số Nº0009744 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Chị La Thị Huỳnh N đã nộp đủ không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 Ny kể từ Ny tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ Ny nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Vũng Liêm;
  • - Chi cục THADS huyện Vũng Liêm;
  • - UBND xã T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Quốc Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM – TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger