|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 03 - 01 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Toản.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ksor H’Qúa và bà Võ Thị Phương Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga– Thư ký Toà án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Liệu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại Hội trường xét xử B, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2023/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Đinh Điết, sinh ngày 10/02/2004 tại huyện K, tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh B và bà Đinh Thị H; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/9/2023 chuyển sang tạm giam ngày 15/9/2023 và tạm giam liên tục cho đến nay, hiện bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1966
Nơi cư trú: Buôn T, xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1981
- Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- + Anh Ksor K, sinh năm 2000
- Nơi cư trú: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người phiên dịch tiếng Ba Na: Ông Nay Dăm T1, sinh năm 1986. Có mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu tháng 9 năm 2023, Đinh Đ, sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai đến xã I, huyện K tìm việc làm và được gia đình ông Nguyễn Văn N cho ở nhờ. Hằng ngày, ông N nuôi cơm Đinh Điết và Đinh Đ phụ giúp công việc làm nương rẫy cho ông N.
Vào sáng ngày 07/9/2023, Đinh Đ muốn về nhà ở huyện K nhưng không có tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp bò của ông N bán lấy tiền. Đinh Điết thấy nhà ông N có 03 con bò (02 con đực, 01 con cái) cột ở bờ suối cách nhà ông N khoảng 500m không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Đinh Đ đến dắt trộm 01 con bò đực nhỏ nhất trong 03 con, đến đám rẫy mía cách đó khoảng 200m rồi cột vào gốc cây. Đinh Điết đến nhà anh Vũ Xuân T, trú cùng buôn, giới thiệu mình là Hồ Văn Đ1 và gạ bán con bò trên cho ông T. Đinh Đ dẫn ông T đến rẫy mía xem bò và nói dối là do Đinh Đ làm công cho người khác 3 tháng và được trả công bằng con bò trên. Sau khi thoả thuận, Đinh Đ đồng ý bán con bò trên cho ông T với giá 6.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, Đinh Đ nhờ ông T chở đến thị trấn P, huyện K để đón xe đò về nhà. Ông Thông đồng ý, trên đường đi Đinh Đ nói ông T ghé vào tiệm điện thoại di động Tiến Kiều ở thị trấn P mua một chiếc điện thoại nhãn hiệu Tecno Sparkgo 2023, màu đen với giá 2.490.000 đồng. Đinh Đ đã nói tên là Hồ Văn Đ1 để chủ tiệm để ghi hoá đơn bán hàng, sau đó bắt xe khách về huyện K.
Khi ông T về nhà thì thấy con bò vừa mua giống bò nhà ông Nguyễn Văn N gần đó thì đến hỏi ông N. Sau khi xác định đúng là bò của ông N thì ông T cùng ông N đến Công an huyện K trình báo sự việc. Sau khi nhận được tin báo, Công an huyện K tiến hành xác minh và bắt giữ Đinh Đ tại trị trấn K.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 15/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, xác định con bò đực loại pha lai, 2 năm tuổi, nặng 150 kg tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 9.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Đinh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Bị hại có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đinh Đ p vào tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX):
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS: Xử phạt bị cáo Đinh Đ từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Buộc bị cáo trả cho ông T 3.800.000 đồng; tuyên trả cho ông T 200.000 đồng của bị cáo Đ đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại; Ngoài ra còn buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm nộp sung quỹ Nhà nước.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 11 giờ ngày 07/9/2023, lợi dụng thời điểm vắng vẻ, cùng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại nên bị cáo Đinh Đ đã lén lút, bí mật trộm cắp 01 con bò trị giá 9.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn N rồi đem bán cho ông Vũ Xuân T với giá 6.000.000 đồng.
Bị cáo Đinh Đ đã trực tiếp trộm cắp tài sản của bị hại với động cơ, mục đích tư lợi cá nhân lấy tiền tiêu xài, đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân là phạm vào tội trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo rõ ràng là có lỗi và sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nay phải chịu trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý đã gây ra.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về các hành vi theo các tội danh trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm và gây hậu quả xấu cho xã hội làm mất an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Nay cần xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để cá thể hóa hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo là điều cần thiết.
Trong vụ án này thì bị cáo Đ là người tự khởi xướng và một mình trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên phải chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án nhưng có tiền sự: Tại Quyết định số 06/QĐ-XPVPHC ngày 21/3/2023, bị Công an huyện K xử phạt hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và có nhân thân xấu là: Tại Quyết định số 16/QĐ-XPVPHC ngày 03/6/2021, bị Công an huyện K xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành thật khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS áp dụng cho bị cáo.
Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học nên có nhận thức pháp luật hạn chế, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS áp dụng cho bị cáo.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát thì HĐXX thấy bị cáo Đ vì ham lợi bất chính, không có tiền tiêu nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mặc dù trước đó đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi này nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện việc trộm cắp tài sản nên thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng giúp cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn. Nên cần chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại ông Nguyễn Văn N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về dân sự, nên HĐXX không xem xét đến. Còn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn T2 có đơn xin xét xử vắng mặt yêu cầu bị cáo bồi thường 4.000.000 đồng tiền mua bò còn lại thì được bị cáo đồng ý. Đồng thời bị cáo đồng ý dùng số tiền 200.000 đồng đang bị tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa để bồi thường cho ông T2 nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường là 3.800.000 đồng. Đây thể hiện ý chí tự nguyện của bị cáo nên HĐXX ghi nhận và buộc bị cáo phải thực hiện.
[5] Về vật chứng của vụ án:
01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Tecno Sparkgo 2023 màu đen là tài sản của bị cáo dùng tiền bán tài sản trộm cắp mà có để mua, nhưng bị cáo đã đồng ý bồi thường cho ông T2 toàn bộ thiệt hại nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) được niêm phong trong bì thư có các chữ ký, ghi họ tên của ông Phạm Xuân K1, Nguyễn Bá H1, Đinh N1 và có dấu vân tay trỏ phải của Đinh Đ đã thu giữ của bị cáo thì bị cáo Đ đồng ý dùng số tiền này để bồi thường cho ông T2. Do đó HĐXX thấy cần thiết tuyên trả cho ông T2 là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo Đ không có nghề nghiệp gì. Bản thân không có tài sản riêng gì cho nên HĐXX quyết định không phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS: Xử phạt bị cáo Đinh Đ 08 (T3) tháng tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 07/9/2023.
-
Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự,
- Trả số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) được niêm phong trong bì thư có các chữ ký, ghi họ tên của ông Phạm Xuân K1, Nguyễn Bá H1, Đinh N1 và có dấu vân tay trỏ phải của Đinh Đ cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Xuân T.
- Trả lại 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Tecno Sparkgo 2023 màu đen cho bị cáo Đinh Điết.
- Đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Buộc bị cáo Đinh Đ phải bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Xuân T là 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
-
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Đinh Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (03/01/2024), còn bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Khắc Toản |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Đ phạm tội trộm cắp tài sản
