|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 01/2024/HSST Ngày 03/01/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- + Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quang Minh;
- Bà Trần Thị Huệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Kiểm sát viên sơ cấp.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại phòng xử án hình sự trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai trực tuyến xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 142/2023/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Hà Văn N, sinh ngày: 22/09/2000; Nơi ĐKHKTT và trú tại: Xóm B, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Hà Văn D, sinh năm 1979 (đã chết); Con bà: Triệu Thị H, sinh năm 1978; nghề nghiệp: Làm ruộng; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 02 tiền sự : Tại quyết định số 02/QĐ XPHC- Ngày 16/01/2023, bị Công an quận C, Hà Nội xử phạt hành chính ; Phạt tiền 7.500.000,đ về hành vi “Sử dụng các loại pháo, thuốc pháo trái phép”.
Tại quyết định số 30/2023/QĐ-TA; Ngày 21/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, TP . Hà Nội ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 07 TP . Hà Nội( Thời gian cai nghiện bắt buộc là 22 tháng); Tại Quyết định số 403/QĐ – CSCNMT, ngày 01/9/2023 của Cơ sở cai nghiện ma túy số G Hà Nội đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; Lý do bắt bị cáo để tạm giam. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/09/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an T. Số giam: 4985 C2 buồng 24.
( Có mặt tại đầu cầu trực tuyến trại giam S – Công an t.p Hà Nội)
Người bị hại:
Anh Lường Văn H1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. ( Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Anh Đàm Văn H2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số F, phố X, phường P, quận H, t.p Hà Nội . ( Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
Anh Lê Văn D1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện T, t.p Hà Nội . ( Vắng mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
Anh Phùng Quốc Q, sinh năm 1988; Địa chỉ: Phố A, xã H, t.p V, tỉnh Vĩnh Phúc. ( Vắng mặt tại phiên tòa).
Bị cáo Hà Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố về tội : “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 30/5/2023, Hà Văn N, sinh năm: 2000, có HKTT: Xóm B, xã M, huyện T, Phú Thọ, đi xe khách từ nhà đến Bến xe thị xã S để tìm việc làm. Khi đến Bến xe S, N ngồi nghỉ tại quán nước của chị Lê Thị L, sinh năm: 1972, trú tại: E phố C, phường Q, TX S thì gặp một nam thanh niên tự giới thiệu tên là Đ, sinh năm: 1995, nhà ở thị xã N, tỉnh Yên Bái. N và Đ cùng nhau đi hỏi và đến xin làm việc tại công trình xây dựng nhà ở thuộc dự án xây dựng của khu đô thị H, tổ dân phố D M, phường T, TX S thì được anh Phùng Quốc Q, sinh năm: 1988, trú tại: Phố A, xã Hội Hợp, t.p V, tỉnh Vĩnh Phúc là quản lý thầu xây dựng nhận vào làm và cho ở sinh hoạt cùng nhóm thợ công nhân khác tại lán xây dựng trong số đó có anh Lường Văn H1, sinh năm: 1993, trú tại: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Sau đó, N và Đ đi ra công trình để làm cùng mọi người, đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì N và Đ về lán nghỉ còn anh H1 cùng những công nhân khác ăn tối tại công trình sau đó làm việc ca tối.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ nói với N “Có mấy cái xe máy ở bên ngoài kia kiểu gì bên trong mấy cái ba lô này cũng có chìa khoá giờ lấy mang đi bán lấy tiền mà tiêu”, Nam hiểu ý Đ rủ N lấy trộm xe máy của nhóm công nhân. Mặc dù N nói sợ không dám lấy nhưng vẫn đồng ý. Đ bảo N chuẩn bị ba lô quần áo còn Đ vào trong lán để lục tìm chìa khoá xe. Khoảng 02 phút sau N thấy Đ lấy được chiếc chìa khoá cùng Giấy tờ xe rồi đi ra bên ngoài cạnh lán ở của công nhân đến vị trí để xe máy của công nhân để lấy xe máy nhãn hiệu Honda Winner X màu đỏ đen bạc, biển số: 26B2-704.15 của anh Lường Văn H1. N cầm theo ba lô đựng quần áo của mình đi ra cửa đứng cảnh giới để Đ dắt chiếc xe máy ra bên ngoài. Sau khi lấy trộm được chiếc xe máy, Đ điều khiển xe chở N đi theo đường Quốc lộ 32 đến khu vực gần Bến xe Y, thuộc quận H, TP . Hà Nội. Do muộn quá nên Đ và N thuê nhà nghỉ để nghỉ. Sáng ngày 31/5/2023, N và Đ mang chiếc xe máy trên cùng toàn bộ giấy tờ liên quan đến cấm cố tại cửa hàng X1, địa chỉ: F phố X, phường P, quận H do vợ chồng anh Đàm Văn H2, sinh năm: 1973, trú tại: F phố X, phường P, quận H và Nguyễn Thị X là vợ anh H2 làm chủ được 16.000.000 đồng, N được Đ chia cho 7.800.000 đồng, rồi mỗi người đi một hướng không đi với nhau nữa. Đ chỉ bảo N cho số điện thoại của N cho Đ rồi bảo là về quê tại Thị xã N, tỉnh Yên Bái. Hai ngày sau Đ đến gặp anh H2 để lấy thêm 2.000.000 đồng tiền cấm cố chiếc xe máy nêu trên, tiếp theo khoảng 1 tuần Đ tiếp tục đến gặp anh
H2 nói muốn bán chiếc xe máy, anh H2 đồng ý mua với giá 19.000.000 đồng và trả thêm cho Đ 1.000.000 đồng. Từ đó đến nay, N không liên lạc và không gặp lại Đ nữa, N không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của Đ ở đâu.
Chiều ngày 30/6/2023, N đi xe khách từ nhà đến Bến xe S và ngồi uống nước ở quán nước đối diện bến xe thì anh Q là chủ thầu xây dựng ở khu đô thị H đi bộ qua nhận ra N và thông báo đến Công an phường T, TX S đưa N về trụ sở để làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Hà Văn N đã khai nhận hành vi cùng Đ trộm cắp tài sản của mình. Theo lời khai của N, cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2–704.15. Số máy KC34E1193547, số khung RLHKC3718LY810403.
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô gắn máy số 26010318 mang tên chủ xe Lường Văn H1, xe biển số 26B2 – 704.15, nhãn hiệu Honda Winer X cấp ngày 24/08/2021.
- - 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lường Văn H1, sinh ngày 26/02/1993, HKTT: Bản Thống nhất A, thôn M, T, Sơn La cấp ngày 04/01/2023.
- - 01 chiếc điện thoại Samsung Glaxy A7 màu xanh đen, màn hình có nhiều vết rạn vỡ, số Imel 1: 353465400749736; Imel2: 3546100749734, trong máy có lắp sim số 0335957946 của Hà Văn N.
Ngày 04/08/2023, Cơ quan CSĐT Công an Thị xã S đã gửi yêu cầu định giá tài sản số 51/YC-CQĐT đến Hội động định giá tài sản trong tổ tụng hình sự để định giá tài sản đối với chiếc xe máy nêu trên.
Cùng ngày, Hội động định giá tài sản trong tổ tụng hình sự thị xã S có bản Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HDĐGTS kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2 – 704.15, số khung RLHKC3718LY810403, số máy KC34E1193547 được mua và sử dụng năm 2021, đã qua sử dụng. Trị giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).”
Về Dân sự:
Anh Lường Văn H1 là người bị hại nhận được xe nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2 – 704.15, N1 không yêu cầu gì nữa; Anh Đàm Văn H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2 – 704.15 do bị cáo N và Đ bán với giá 19.000.000,₫ . Nay yêu cầu bị cáo N phải bồi thường cho anh đủ số tiền trên, ngoài ra không yêu cầu gì khác; Đối với anh Lê văn D2 là người anh Đàm Văn H2 nhờ anh D2 bán xe hộ, anh D2 đã trả lại xe cho Cơ quan Điều tra, không thiệt hại gì về tài sản không có yêu cầu gì về dân sự.
Vật chứng vụ án:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc, đỏ, đen mang BKS 26B2 – 704.15. Số máy KC34E1193547, số khung RLHKC3718LY810403; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô gắn máy số 26010318 mang tên Lường Văn H1; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lường Văn H1. Ngày 20/09/2023, Cơ quan CSĐT Công an Thị xã S ra Quyết định số 35/QĐ-CQĐT xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp cho anh Lường Văn H1. Anh H1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Glaxy A7 màu xanh đen, màn hình có nhiều vết rạn vỡ, số Imel 1: 353465400749736; Imel2: 3546100749734, trong máy có lắp sim số 0335957946 của Hà Văn N (đã qua sử dụng), Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội truy tố bị cáo Hà Văn N về tội: "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hà Văn N về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38- BLHS; Xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 12 đến 15 tháng tù, Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày 06/9/2023 . Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Dân sự:
Buộc bị cáo Hà Văn N phải bồi thường cho ông Đàm Văn H2 số tiền là 16.000.000,₫ (Mười sáu triệu đồng); Giành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác cho bị cáo Hà Văn N đối với người có tên là Đ khi bị xét xử bằng 01 vụ hình sự khác hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Về tang vật, vật chứng :
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tuyên bố trả cho bị cáo Hà Văn N 01 chiếc điện thoại Samsung Glaxy A7 màu xanh đen, màn hình có nhiều vết rạn vỡ, số Imel 1: 353465400749736; Imel2: 3546100749734, trong máy có lắp sim số 0335957946 của Hà Văn N (đã qua sử dụng), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 27/11/2023.
Bị cáo Hà Văn N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiêm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bản kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:
Bị cáo Hà Văn N cùng một nam thanh niên tự giới thiệu tên là Đ, sinh năm: 1995, nhà ở thị xã N, tỉnh Yên Bái, đến xin làm việc tại công trình xây dựng nhà ở thuộc dự án xây dựng của khu đô thị H, tổ dân phố D M, phường T, TX S thì được anh Phùng Quốc Q, sinh năm: 1988, trú tại: Phố A, xã Hội Hợp, t.p V, tỉnh Vĩnh Phúc là quản lý thầu xây dựng nhận vào làm và cho ở sinh hoạt cùng nhóm thợ công nhân khác tại lán xây dựng trong số đó có anh Lường Văn H1, sinh năm: 1993, trú tại: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Sau đó bị cáo N và Đ đi ra công trình để làm cùng mọi người, đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì bị cáo N và Đ về lán nghỉ còn anh H1 cùng những công nhân khác ăn tối tại công trình sau đó làm việc ca tối.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, Đ nói với bị cáo N “Có mấy cái xe máy ở bên ngoài kia kiểu gì bên trong mấy cái ba lô này cũng có chìa khoá giờ lấy mang đi bán lấy tiền mà tiêu”, Đ cùng bị cáo Hà Văn N lén lút tìm chìa khóa cùng giấy tờ xe đã chiếm đoạt 01xe máy nhãn hiệu Honda Winner X màu đỏ đen bạc, biển số: 26B2-704.15 của anh Lường Văn H1. Sáng ngày 31/5/2023, N và Đ mang chiếc xe máy trên cùng toàn bộ giấy tờ liên quan đến cấm cố tại cửa hàng xe máy H, do vợ chồng anh Đàm Văn H2, sinh năm: 1973, trú tại: F phố X, phường P, quận H được 16.000.000 đồng, bị cáo N được Đ chia cho 7.800.000 đồng, rồi mỗi người đi một hướng không đi với nhau nữa. Đ chỉ bảo bị cáo N cho số điện thoại của bị cáo N cho Đ rồi bảo là về quê tại Thị xã N, tỉnh Yên Bái. Hai ngày sau Đ đến gặp anh H2 để lấy thêm 2.000.000 đồng tiền cấm cố chiếc xe máy nêu trên, tiếp theo khoảng 1 tuần Đ tiếp tục đến gặp anh H2 nói muốn bán chiếc xe máy, anh H2 đồng ý mua với giá 19.000.000 đồng và trả thêm cho Đ 1.000.000 đồng. Từ đó đến nay, bị cáo N không liên lạc và không gặp lại Đ nữa, bị cáo N không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của Đ ở đâu.
Chiều ngày 30/6/2023, bị cáo N đi xe khách từ nhà đến Bến xe S và ngồi uống nước ở quán nước đối diện bến xe thì anh Q là chủ thầu xây dựng ở khu đô thị H đi bộ qua nhận ra bị cáo N và thông báo đến Công an phường T, TX S đưa N về trụ sở để làm việc.
Tại cơ quan điều tra, Hà Văn N đã khai nhận hành vi cùng Đ trộm cắp tài sản của anh Lường Văn H1. Theo lời khai của N, cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:
- - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2–704.15. Số máy KC34E1193547, số khung RLHKC3718LY810403.
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô gắn máy số 26010318 mang tên chủ xe Lường Văn H1, xe biển số 26B2 – 704.15, nhãn hiệu Honda Winer X cấp ngày 24/08/2021.
- - 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lường Văn H1, sinh ngày 26/02/1993, HKTT: Bản Thống nhất A, thôn M, T, Sơn La cấp ngày 04/01/2023.
- 01 chiếc điện thoại Samsung Glaxy A7 màu xanh đen, màn hình có nhiều vết rạn vỡ, số Imel 1: 353465400749736; Imel2: 3546100749734, trong máy có lắp sim số 0335957946 của Hà Văn N.
Ngày 04/08/2023, Cơ quan CSĐT Công an Thị xã S đã gửi yêu cầu định giá tài sản số 51/YC-CQĐT đến Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự để định giá tài sản đối với chiếc xe máy nêu trên.
Cùng ngày, Hội động định giá tài sản trong tổ tụng hình sự thị xã S có bản Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HDĐGTS kết luận: “01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2 – 704.15, số khung RLHKC3718LY810403, số máy KC34E1193547 được mua và sử dụng năm 2021, đã qua sử dụng. Trị giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Hành vi của bị cáo Hà Văn N đã cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản". Bị cáo N thực hiện trộm cắp tài sản trị giá 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Nên bị cáo Hà Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố về tội : “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi lợi dụng sơ hở của những người đi làm công nhân ăn ở chung, tin tưởng nhau như một nhà để tập chung tài sản các giấy tờ liên quan một nơi ở cùng trên địa bàn thị xã S, bị cáo N cùng một người khác tên là Đ đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe máy đem đi tiêu thụ lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Hành vi của bị cáo Hà Văn N là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, an ninh địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong nhân dân. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo N với mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung .
Trong vụ án này bị cáo Hà Văn N cùng một người khác tên là Đ cùng tham gia phạm tội. Người tên Đ khởi xướng, bị cáo N thực hiện đồng tình một cách tích cực, có tính đồng phạm, mang tính bột phát, phạm tội không có tổ chức, không có sự chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, khi phạm tội bị cáo N nhìn thấy tài sản của anh em công nhân cùng đi làm ăn cùng, ở cùng mang tính bột phát. Đối với người tên là Đ Cơ quan Điều tra đã truy tìm lai lịch nhưng không có căn cứ tại nơi cư trú theo lời khai của bị cáo Hà Văn N. Do vậy bị cáo N phải chịu trách nhiệm về hành vi của bị cáo gây ra cũng như trách nhiệm dân sự người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan yêu cầu.
Tuy nhiên, khi lượng hình, ngoài hành vi, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ hiểu biết pháp luật còn bị hạn chế. Do vậy bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 – BLHS năm 2015;
Về các tình tiết tăng nặng: Không có.
Cần thiết phải áp dụng Điều 38 BLHS cách ly bị cáo Hà Văn N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức sâu sắc hành vi phạm tội của mình, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung. Cần áp dụng khoản 1 Điều 329 – BLTTHS 2015 tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015, còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000,₫ đến 50.000.000,đ. Xét bị cáo N có hoàn cảnh khó khăn, là người dân tộc tiểu số, sống vùng miền khó khăn về công ăn việc làm, không có khả năng thi hành hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người đàn ông tên Đ. Là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã tiến hành ra Thông báo truy tìm đối tượng số 643, ngày 23/10/2023 đến các đơn vị liên quan, rà soát tại Công an Thị xã N xác định không có người nào tên Đ có đặc điểm như thông báo. Mặt khác, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành có công văn gửi Tập đoàn V về việc thu giữ điện tín, thư tín đối với số thuê bao 033595946 của bị cáo Hà Văn N để thu thập thông tin về đối tượng tên Đ. Tuy nhiên, qua danh sách chi tiết lịch sử liên lạc thoại và SMS của thuê bao không có thông tin nào liên quan đến người đàn ông tên Đ này. Do đó, chưa xác định được thông tin, lai lịch của Đ nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với đối tượng Đ. Cơ quan điều tra ra quyết định tách hồ sơ số 07/QĐ-ĐTTH ngày 13/11/2023, tiếp tục điều tra, xác minh đối tượng này để xử lý theo quy định của pháp luật là hoàn toàn có căn cứ. Nên HĐXX không xét.
Đối với anh Đàm Văn H2 và anh Lê Văn D1. Anh H2 là người đã mua chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winer X màu sơn bạc - đỏ - đen mang BKS 26B2 – 704.15 do Hà Văn N trộm cắp được mà có. Quá trình điều tra, xác minh đã xác định được anh H2 không biết đây là chiếc xe máy do bị cáo N trộm cắp được, trước khi mua xe anh H2 có hỏi bị cáo N và Đ về nguồn gốc của chiếc xe máy thì Đ nói rằng đây là chiếc xe của Đ không sử dụng nên mang đi bán. Sau đó, anh H2 nhờ anh D1 bán hộ chiếc xe máy trên vì có đủ giấy tờ. Tuy nhiên, khi được thông báo chiếc xe máy trên là tài sản bị trộm cắp, anh H2 cùng anh Lê Văn D1 đã tự nguyện giao nộp để phục vụ điều tra. Vì vậy, cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý là có căn cứ. HĐXX không xét.
Về dân sự :
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn N hoàn toàn đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Đàm Văn H2 là 19.000.000,đ. Buộc bị cáo Hà Văn N phải bồi thường cho ông Đàm Văn H2 số tiền là 19.000.000,đ (Mười chín triệu đồng); Giành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác cho bị cáo Hà Văn N đối với người có tên là Đ khi bị xét xử bằng 01 vụ án khác hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật.
Về tang vật, vật chứng :
HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
Tuyên bố trả cho bị cáo Hà Văn N 01 chiếc điện thoại Samsung Glaxy A7 màu xanh đen, màn hình có nhiều vết rạn vỡ, số Imel 1: 353465400749736; Imel2: 3546100749734, trong máy có lắp sim số 0335957946 của Hà Văn N (đã qua sử dụng), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 27/11/2023.
Về án phí: Bị cáo Hà Văn N phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- * Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38- BLHS năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên xử: - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn N 12 (Mười hai) tháng tù, Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày 06/09/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Hà Văn N . Áp dụng khoản 1 Điều 329 – BLTTHS 2015 tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- * Về phần dân sự : Áp dụng Điều 48 – BLHS năm 2015; Điều 589, 357, 468 – BLDS 2015;
- Buộc các bị cáo Hà Văn N phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đàm Văn H2 số tiền là 19.000.000,₫ (Mười chín triệu đồng); Giành quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác cho bị cáo Hà Văn N đối với người có tên là Đ khi bị xét xử bằng 01 vụ án khác hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật. Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ông Đàm Văn H2 có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo chưa thanh toán số tiền chậm trả cho ông H2 thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả . Lãi suất phát sinh được quy định theo khoản 2 điều 357 – BLDS năm 2015.
- * Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tuyên bố trả cho bị cáo Hà Văn N 01 chiếc điện thoại Samsung Glaxy A7 màu xanh đen, màn hình có nhiều vết rạn vỡ, số Imel 1: 353465400749736; Imel2: 3546100749734, trong máy có lắp sim số 0335957946 của Hà Văn N (đã qua sử dụng), theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây lập ngày 27/11/2023.
- * Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Hà Văn N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 950.000,₫ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự;
- * Quyền kháng cáo: Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Bị cáo Hà Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án ; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án ;
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.
|
Nơi nhận
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lã Hùng Cường |
Bản án số 01/2024/HSST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 01/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Hà Văn N
