Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 02 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.

Các hội thẩm nhân dân: ông Bùi Đăng Triệu và bà Phạm Thị Minh Huyền

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: ông Trịnh Hải Hà - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 12 năm 2023 và ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 166/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn N, tên gọi khác: không; sinh ngày 12 tháng 9 năm 1984, tại C, Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ B, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số nhà F, tổ E, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B (chết) và bà Lương Thị N1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân: ngày 16/01/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 36 tháng tù, về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 02/02/2009; ngày 14/6/2012 Công an thành phố C xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc; bị bắt ngày 27/6/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày 07 tháng 10 năm 1982, tại C, Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ A, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ E, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Phạm Thị D (chết); vợ, con : chưa; tiền án: ngày 05/05/2020, Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/5/2020, đã thi hành xong phần thi hành án dân sự; ngày 19/3/2022 chấp hành xong án phạt tù; tiền sự: không; nhân thân: ngày 07/12/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về hai tội “Cướp giật tài sản” và "Trộm cắp tài sản"; chấp hành xong hình phạt tù; ngày 27/02/2003, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xử phạt 08 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 12/6/2009 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 25/02/2011, bị bắt buộc cai nghiện tại Trung tâm G, huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh. Ngày 06/02/2013, hoàn thành chương trình cai nghiện; bị bắt ngày 27/6/2023, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.

* Người làm chứng: chị Hà Thị Lan A; chị Tạ Ánh D1; chị Nguyễn Thu H; anh Bùi Quang T2 (tên gọi khác: Có); anh Ngô Hùng T3; anh Hoàng Tuấn H1 (sinh ngày 19/9/2007) người giám hộ cho Hoàng Tuấn H1 là bà Nguyễn Thị D2); anh Bùi Quang H2; anh An Văn V; anh Lê Văn T4; chị Đào Mộng Đ; anh Nguyễn Ngọc H3; anh Đoàn Quốc V1; anh Vũ Anh Đ1; anh Ngô Viết C; chị Vũ Quỳnh C1; anh Trịnh Văn Q; anh Bùi Trọng D3; anh Lê Minh C2; anh Đỗ Nguyên T5; anh Trần Văn T6; anh Nguyễn Mạnh H4; anh Nguyễn Minh N2; anh Bùi Duy V2; anh Nguyễn Mạnh H5; đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 26/6/2023, sau khi ăn uống ở nhà bạn xong, Nguyễn Văn N khởi xướng, rủ Nguyễn Văn T đến quán K2, thuộc tổ E, khu F, phường C, C để nghe nhạc và sử dụng ma túy, thì T đồng ý. Cả hai thống nhất, N là người chuẩn bị ma túy để sử dụng, còn T sẽ thanh toán tiền bàn. Sau đó, N đi về nhà lấy 01 túi nilon bên trong chứa ma túy Ketamine rồi đi đến quán K2 và Karaoke O2 trước. Vào bên trong vũ trường, Năm lấy bàn VIP 12 ở gác xép tầng 1 để chơi, một lúc sau thì T đến. Năm có gọi điện rủ thêm Tạ Ánh D1 đến chơi, sử dụng ma túy, D1 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Thu H (là bạn của D1) đi cùng, nhưng D1 không nói với H là đến để sử dụng ma túy. Còn T thì gọi điện rủ thêm Ngô Hùng T3 đến sử dụng ma túy, T3 cũng đồng ý. Tại bàn của nhóm Năm có Hà Thị Lan A và Hoàng Tuấn H1 là nhân viên phục vụ.

Lúc này, tại bàn VIP 14 ở tầng 1 có nhóm các anh Lê Văn T4, An Văn V, Bùi Quang H2, cùng một số người bạn đang uống bia với nhau. Phục vụ tại bàn VIP 14 có Trịnh Văn Q và Vũ Quỳnh C1.

Sau khi vào bàn ngồi được khoảng 20 phút thì N đưa T 01 túi nilon chứa ma túy Ketamine vừa lấy từ nhà đi, T cầm rồi lấy ra 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng đổ một ít ma túy Ketamine trong túi ra tờ tiền rồi gấp lại, số ma túy còn lại trong túi nilon thì đưa lại cho N. Năm cất túi nilon chứa ma túy vào túi quần bên trái đang mặc, sau đó T lấy 01 bật lửa gas màu đỏ nghiền nhuyễn ma túy Ketamine trong tờ tiền và lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn thành ống hút để sử dụng ma túy. T sử dụng trước, rồi đưa ma túy mời Năm sử dụng, N dùng móng tay xúc một ít ma túy Ketamine sử dụng bằng cách hít vào mũi, rồi Năm mời chị Lan A, H1, nhưng chỉ có H1 sử dụng. Khi T3 đến, T lại mời anh T3 sử dụng ma túy, anh T3 dùng móng tay xúc một ít ma túy hít vào mũi.

Do có quen biết từ trước, nên các Lê Văn T4, An Văn V đi từ bàn Vip14 đến mời Năm uống bia, còn Năm thì mời T4V sử dụng ma túy, cả hai đồng ý. Sử dụng xong, T4V quay về bàn Vip14, thì Bùi Quang H2 từ bàn này đến mời Năm uống bia, Năm cũng mời H2 sử dụng ma túy, N chỉ cho anh H2 vị trí tờ tiền 1.000 đồng chứa ma túy Ketamine và ống hút đang được để ở khe để đồ dưới mặt bàn, để H2 tự lấy sử dụng rồi đặt lại tại vị trí cũ. Một lúc sau, chị D1 cùng H đến, thì N đưa ma túy mời D1H sử dụng. Sử dụng xong, D1 có đưa tờ tiền chứa ma túy và ống hút cho H1, nhưng H1 không sử dụng.

Do bàn VIP 12 ngồi hơi chật, nên N bảo nhân viên dọn đồ chuyển sang bàn VIP 11. Sau khi chuyển sang bàn VIP 11, thì Bùi Quang C3 (tức T2)-là nhân viên bảo vệ của quán- đến mời N uống bia, Năm tiếp tục đưa ma túy và ống hút mời T2(tức C3) sử dụng, T2 (tức: Có) đang định sử dụng thì lực lượng Công an tới quán kiểm tra, do sợ hãi nên anh đã vất tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng chứa ma túy Ketamine và ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng xuống dưới sàn.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và khai mỗi lần N sử dụng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng tiền ma tuý. Nếu chưa bị bắt thì N còn tiếp tục sử dụng cho đến hết số ma tuý đã mua; Nguyễn Văn T khai nhận về hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu.

Những người làm chứng anh Bùi Quang T2 (tức Có), Hoàng Tuấn H1, An Văn V, Lê Văn T4, Tạ Ánh D1, Nguyễn Thu H khai: được Năm mời sử dụng ma tuý và họ đã sử dụng ma tuý, số ma tuý được đựng trong tờ tiền mệnh giá 1000 đồng đang được gấp lại và dùng ông hút bằng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng; anh Ngô Hùng T3 khai được T mời đến quán K2 nghe nhạc và sử dụng ma tuý, anh sử dụng ma tuý bằng cách lấy dùng móng tay xúc một ít ma tuý Ketamin do T đưa được đựng trong tờ tiền mệnh giá 1000 đồng hít vào mũi; chị Hà Thị Lan A là nhân viên phục vụ tại bàn VIP 12 khai tại cơ quan điều tra: chị thấy mọi người đang truyền tay nhau tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng trong chứa Ketamin để sử dụng, mọi người có mời chị nhưng chị không đồng ý, chị thấy anh V, T4, H2 là bạn anh N ở bàn Vip 14 lần lượt được anh N mời chơi K, chị còn thấy T đổ K vào tờ tiền 1000 đồng rồi dùng bật lửa đánh mịn ra, T dùng tờ tiền mệnh giá 10.000đồng cuộn thành ống hút. T lấy tờ tiền 1000 đồng trong túi chia số ke vừa đánh mịn ra làm 2 phần, 1 phần gói vào tờ tiền 1000 đồng đưa cho N, năm cất đi, còn 1 phần để trên bàn cho mọi người cùng chơi.

Bùi Quang H2 (nhân viên phục vu tại bàn VIP 12 cung L ) vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra Công an thành phố C thể hiện: được Năm mời sử dụng ma tuý tại bàn VIP 11, VIP 12 và họ có sử dụng, số ma tuý được đựng trong tờ tiền mệnh giá 1000VND đang được gấp lại và dùng ông hút bằng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng;

Tại bản kết luận giám định số 905/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q kết luận:

  • Chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1) trong 01 túi nilon kích thước (5 x 9)cm thu giữ của Nguyễn Văn N; Chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2) trong 01 tờ tiền Việt Nam loại 1000 đồng (cháy xém một góc), mã số hiệu LZ 6595785 và chất bột màu trắng dạng vết (kí hiệu M3) dính trên 01 tờ tiền Việt Nam loại 10000 đồng, mã số hiệu EK 14492190 đều thu giữ tại khu vực bàn VIP 11; Chất bột màu trắng (kí hiệu M4) trong 01 tờ tiền Việt Nam loại 1000 đồng, mã số hiệu ZN 1822244 thu giữ tại khu vực bàn VIP 14 đều là ma túy, loại Ketamine, khối lượng lần lượt như sau: M1: 0,844gam; M2: 0,193gam; M3: dạng vết không xác định được; M4: 0,228gam.

Tại bản kết luận giám định số 1520/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Ketamine dính trên tờ tiền Việt Nam loại 10.000 đồng, mã số hiệu LK 20901390, khối lượng: dạng vết không xác định được.

Tại bản kết luận giám định số 578/KL-KTHS (MT) ngày 01/7/2023 của Phòng K3 Công an thành phố H, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine và sản phẩm chuyển hóa của Ketamine là N3, D4 trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Văn N, Ngô Hùng T3, Lê Văn T4An Văn V; Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA, Ketamine và sản phẩm chuyển hóa của K1 là N3, D4 trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Văn T, Tạ Ánh D1, Nguyễn Thu H, Hoàng Tuấn H1, Bùi Quang H2.

Bản cáo trạng số: 173/CT-VKSCP ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố: bị cáo Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và vì trong số những người được 2 bị cáo tổ chức cho sử dụng ma tuý có Hoàng Tuấn H1 khi sử dụng ma tuý mới 15 tuổi 09 tháng 07 ngày nên tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát quy kết các bị cáo còn phạm tội theo điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự (tình tiết định khung: Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi) và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (riêng bị cáo T áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS) đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn NNguyễn Văn T cùng mức án từ 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/6/2023.

- Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định, các sim điện thoại số 0986.855.xxx; 0826.177.988 và 01 bật lửa ga màu đỏ;

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Iphone của Năm; 01 điện thoại Samsung của T, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. Trả lại cho bị cáo năm 01 điện di động nhãn hiệu REALME, lắp sim số: 0818.786.166.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng đều không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

2.1. Đối với hành vi phạm tội của của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người người làm chứng; biên bản kiểm tra và tạm giữ đồ vật do Công an tỉnh Q lập vào hồi 22 giờ 45 phút, ngày 26/6/2023; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; sơ đồ và bản ảnh thu giữ vật chứng; các biên bản lấy và niêm phong mẫu nước tiểu; các biên bản xét nghiệm chất ma tuý; các Bản kết luận giám định số: 905/KLGĐ ngày 03/7/2023 và số 1520/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q; kết luận giám định số 578/KL-KTHS(MT) ngày 01/7/2023 của Phòng K3 Công an thành phố H; các biên bản kiểm tra điện thoại cùng với các tài liệu khác cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 26/6/2023, tại quán K2, thuộc tổ E, khu F, phường C, C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn NNguyễn Văn T đã có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho nhiều người khác là Tạ Ánh D1, Nguyễn Thu H, Ngô Hùng T3, Hoàng Tuấn H1, Lê Văn T4, An Văn V và Bùi Quang H2 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Ketamine trong đó khi được mời sử dụng ma tuý Hoàng Tuấn H1; sinh ngày 19/9/2007 (ở độ tuổi: 15 tuổi 09 tháng 07 ngày); hành vi của các bị cáo N, T đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự nên chấp nhận luận tội của kiểm sát viên tại phiên toà về việc kết luận thêm các bị cáo N.T còn bị áp dụng tình tiết “Đối với người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi” là tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với 02 bị cáo là có cơ sở chấp nhận.

[3] Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã vi phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các đối tượng buôn bán ma túy hoạt động, gây mất trật tự an ninh xã hội tại đại phương. Việc tổ chức sử dụng ma túy đặc biệt là Ketamine đang là hiểm họa của toàn xã hội vì nó hủy hoại sinh trí lực, gây ảo giác cho người sử dụng và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Trong vụ án này, các bị cáo đều biết sự nghiêm cấm của pháp luật đối với các chất ma túy và nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo kém, thiếu ý thức rèn luyện bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến một bộ phận thanh, thiếu niên thích chơi bời, tụ tập, thích thử cảm giác mới nên cần xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: các bị cáo đều cố ý tổ chức cho nhiều người sử dụng ma tuý.

  • - Đánh giá vai trò: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Văn N là người khởi xướng, cung cấp mua túy và mời nhiều người sử dụng, nên giữ vai trò đầu vụ; đối với bị cáo Nguyễn Văn T thỏa thuận với N sẽ chịu trách nhiệm trả tiền bàn, gọi điện mời T3 đến sử dụng ma túy, chuẩn bị công cụ để cho các đối tượng khác sử dụng ma túy, nhận ma túy từ N, dùng bật lửa để nghiền ma túy, mời Năm, T3 sử dụng, nên bị cáo có vai trò đứng sau bị cáo N.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo thấy: bị cáo Nguyễn Văn T đã từng có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vào năm 2020, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng. Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên toà, Nguyễn Văn NNguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không cần thiết phải áp dụng.
  • - Về vật chứng:
    • + Đối với số ma túy được hoàn lại sau giám định đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 bật lửa ga màu đỏ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
    • + Đối với 01 điện thoại Iphone thu giữ của Năm; 01 điện thoại Samsung thu giữ của T đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với 02 sim điện thoại kèm theo hai chiếc điện thoại trên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu huỷ.
    • + Đối với 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 (một nghìn) đồng mặc dù đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
    • + Đối với chiếc điện di động nhãn hiệu REALME, kèm theo 01 sim thu giữ của Nguyễn Văn N, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

Nguyễn Văn N khai nhận nguồn gốc số ma túy là mua của một người không quen biết, không rõ lai lịch ở thành phố Hải Phòng để sử dụng, không đủ căn cứ để xác minh làm rõ, nên không đề cập xử lý. Khi bị bắt, thu giữ trong người bị cáo N (0,844 gam Ketamine) tuy nhiên các bị cáo còn đang trong quá trình sử dụng, nếu chưa bị bắt vẫn tiếp tục sử dụng cho đến hết nên không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đối với Tạ Ánh D1 rủ Nguyễn Thu H tới chơi cùng nhóm Nguyễn Văn N, nhưng mục đích chỉ rủ đến chơi, không nói cho chị H biết việc N rủ đến sử dụng ma túy. Do đó, hành vi của D1 không cấu thành tội phạm.

Đối với tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, số Seri LK 20901390 và tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, số Seri: ZN 1822244 được gấp lại bên trong chứa ma túy Ketamine, thu tại bàn VIP14. Quá trình điều tra, không chứng minh được ai là người đã đem đến quán K2, nên chuyển theo vật chứng theo vụ án, xử lý theo quy định.

Đối với Ngô Hùng T3, Lê Văn T4, An Văn V, Bùi Quang H2, anh Hoàng Tuấn H1, chị Tạ Ánh D1, chị Nguyễn Thu H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an tỉnh Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là thoả đáng.

Đối với anh Ngô Viết C là chủ quán K2, khi Nguyễn Văn NNguyễn Văn T tổ chức cho mọi người sử dụng trái phép chất ma túy bên trong cơ sở thì anh C không biết, không có căn cứ anh C có hành vi bao che, giúp sức cho NT thực hiện hành vi phạm tội, do đó hành vi của anh C không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ đề nghị Công an thành phố C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Ngô Viết C về hành vi “để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy bên trong cơ sở kinh doanh của mình”.

[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; (áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn T):

Tuyên bố: Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị bắt 27/6/2023;

Xử phạt: Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị bắt 27/6/2023;

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định trong 02 phong bì còn nguyên niêm phong số 905/KL-KTHS số 01 và số 02; 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 1520/KL-KTHS, 01 sim điện thoại trên sim có 05 dãy số 8984,0488,3100,4324,531 và 01 sim điện thoại trên sim có 4 dãy số 89480, 20001, 12137,69019 và 01 bật lửa ga màu đỏ đã cũ; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone của Năm; 01 điện thoại Samsung của T, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 (một nghìn) đồng. Trả lại cho bị cáo N 01 điện di động nhãn hiệu REALME và 01sim trên sim có 4 dãy số 89840,20001,12598,44551; tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 43/BB-THA ngày 08/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo N, T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Cẩm Phả;
  • - CQ CSĐT Công an TP Cẩm Phả;
  • - CQ THAHS Công an TP Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Cẩm Phả;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N - T tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger