Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 02-01-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Công Danh

Ông Trần Văn Chánh

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Quang Minh- Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Thông- Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 783/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 692/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 31 tháng 7 năm 2002 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi thường trú: 158/48/67A, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977 (đã chết) và bà Hồ Thị Bé D, sinh năm 1980; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 13/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 529/2021/HSST (chấp hành xong hình phạt ngày 15/6/2022); Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ- Công an thành phố B (Có mặt).

Cao Bá T, sinh ngày 02 tháng 03 năm 2001 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký HKTT: 9/4, tổ E, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Bá T1, sinh năm 1974 và bà Bay Thị H2, sinh năm 1975; Vợ, con: chưa có. Tiền án: Ngày 10/04/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 153/2020/HS-ST (Chưa thi hành tiền bồi thường thiệt hại). Ngày 13/12/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 529/2021/HS-ST (Chấp hành xong hình phạt ngày 15/12/2022). Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 516/2016/HSST; Ngày 31/10/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 507/2019/HS-ST. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ- Công an thành phố B (Có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số E, lô C, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 ngày 29/08/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô BKS: 49M4- 5276 chở Cao Bá T đi chơi. Khi đi đến nhà số E, lô C, KP.11, P. T TP ., Đồng Nai do bà Nguyễn Thị H3 làm chủ thì phát hiện cửa sổ trên tầng 1 mở nên cả hai bàn nhau đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản. H đứng ngoài cảnh giới, T leo lên mái tôn nhà bên cạnh và đột nhập vào căn nhà qua cửa sổ rồi vào các phòng lấy trộm 01 đồng hồ đeo tay thông minh hiệu Kidcare, 02 nhẫn kim loại màu vàng, một đôi bông tai kim loại màu vàng, 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 lắc tay bằng kim loại màu trắng, 01 Điện thoại di động hiệu POCO màu vàng, 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu trắng, 01 túi xách màu nâu, hiệu SOFIA; 01 chiếc bóp hiệu Sofĩa là tài sản của gia đình bà H3 rồi theo lối cũ thoát ra ngoài. H, T mang số tài sản trên đến phòng trọ của Lê Thành C, sinh năm: 2005 tại Phường H, TP . để cất. Phát hiện mất tài sản, bà H3 trình báo Công an phường T. Qua định vị từ chiếc đồng hồ đeo tay thông minh hiệu Kidcare, Công an phường T phối hợp Công an phường H kiểm tra phòng trọ của C phát hiện H, T và tài sản do H, T lấy trộm nên Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án gồm:

01(một) đồng hồ đeo tay thông minh, mặt màu đen viền trắng, dây màu hồng, hiệu Kidcare, bên trong có sim số 0858431836; 01(một) nhẫn vàng 16K có đúc chạm rồng, trọng lượng 2.402c; 01(một) nhẫn vàng 16K, loại chủ tấm xq đai chéo, trọng lượng 5.1p; 01(một) đôi bông tai vàng 14K, có hình ngôi sao, giữa ngôi sao có gắn đá màu trắng, trọng lượng: 02 phân 06 li; 01(một) dây chuyền có gắn mặt dây chuyền hình túi xách bằng vàng 14K, có đính đá màu trắng, trọng lượng 1.254c; 01 (một) lắc tay có mặt kim loại hình con mèo màu trắng (bằng bạc), tổng trọng lượng: 2,08c; 01(một) Điện thoại di động hiệu POCO màu vàng; 01(một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A màu trắng. Những tài sản này là của chị Nguyễn Thị H3, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 49M4-5276. Là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm, do chiếc xe này là tang vật trong vụ án “Trộm cắp tài sản” mà Cơ quan CSĐT Công an T, tỉnh Bình Dương đang thụ lý, nên Cơ quan CSĐT Công an T tách ra tiếp tục xử lý sau.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 468/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 đồng hồ đeo tay thông minh hiệu Kidcare trị giá 1.079.400đồng; 01 nhẫn vàng 16K trị giá 1.795.200đồng; 01 nhẫn vàng 16K có đúc chạm rồng trị giá 8.455.040đồng; 01 đôi bông tai vàng 15K trị giá 862.680đồng; 01 sợi dây vàng 14K trị giá 4.160.772đồng; 01 lắc tay bằng bạc trị giá 139.672đồng; 01 điện thoại di động hiệu poco màu vàng; trị giá 2.113.950đồng; 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A trị giá 1.360.000đồng. Tổng cộng tài sản định giá có giá trị 19.966.714đồng;

Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Bá T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Tại bản cáo trạng số: 751/CT-VKSBH, ngày 29 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173. Truy tố bị cáo Cao Bá T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Xử phạt bị cáo Cao Bá T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự; Về vật chứng: Đã giải quyết xong.

Đối với anh Lê Thành C là người cho các bị cáo H, T đến ở và cất tài sản sau khi trộm cắp tại phòng trọ của C. C không biết những tài sản đó do HT phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Qua xem xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H, Cao Bá T đã khai nhận thể hiện trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên Tòa thống nhất với hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 29/8/2023 tại nhà số nhà S, lô C, khu phố A, phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Văn H cùng với Cao Bá T có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H3 01(một) đồng hồ đeo tay thông minh hiệu Kidcare; 01(một) nhẫn vàng 16k, trọng lượng 2.402c; 01(một) nhẫn vàng 16K, trọng lượng 5.1p; 01(một) đôi bông tai bằng vàng 14K, trọng lượng: 02 phân 06 li; 01(một) dây chuyền bằng vàng 14K, trọng lượng 1.254c; 01 (một) lắc tay có mặt hình con mèo bằng bạc, tổng trọng lượng: 2,08c (bằng bạc); 01(một) Điện thoại di động hiệu POCO màu vàng; 01(một) máy tính bảng hiệu S A màu trắng; 01(một) túi xách màu nâu, hiệu SOFIA; 01 (một) chiếc bóp hiệu Sofia có tổng giá trị định giá là 19.966.714 đồng (Mười chín triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, bảy trăm mười bốn đồng) thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.

[2.2] Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H, Cao Bá T là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

Hành vi của Nguyễn Văn H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi của Cao Bá T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, khi thực hiện hành vi Cao Bá T là người thuộc trường hợp “Tái phạm” vì đã bị Tòa án kết án 02 lần chưa được xóa án tích, nên phạm vào tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

[2.3] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi và vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn trong thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cao Bá T là trực tiếp đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản còn bị cáo H đứng ngoài cảnh giới nên bị cáo T giữ vai trò cao hơn bị cáo H.

[2.4] Nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, việc áp dụng hình phạt cho bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, vì đã nhiều lần bị Tòa án kết án.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H khi thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về việc áp dụng hình phạt: Xét các bị cáo trước đó đã bị Tòa án kết án và vừa mới chấp hành xong hình phạt tù, nhưng không xem là bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[2.5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị H3 không yêu cầu về dân sự; Vật chứng đã giải quyết xong. Nên HĐXX không phải đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Buộc mổi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Cao Bá T 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2023.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn HCao Bá T mổi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hiếu, Cao Bá Trung phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger