Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/01/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ

Ông Trần Văn Hưng

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia

phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 383/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc " Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 196/2023/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy D, sinh năm 1982; (có mặt)

Cư trú: 9A khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Tạm trú: 265A ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn B, sinh năm 1974; (vắng mặt)

Cư trú: 9A khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thị Thùy D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và chồng bà là ông Hồ Văn B đăng ký kết hôn ngày 12/7/2002 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu và hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay, thời gian ly thân vợ chồng mạnh ai nấy sống. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông B nên bà yêu cầu ly hôn với ông B.

Về con chung: bà và ông B có với nhau 02 con chung Hồ Minh T, sinh ngày 23/10/2003 và Hồ Nhựt N, sinh ngày 24/4/2007. Sau khi ly hôn, đối với cháu T đã trưởng thành bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với cháu N bà yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn ông Hồ Văn B: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác cho ông B theo đúng quy định nhưng ông B vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D; Về con chung, giao cháu N cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà D không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con, đối với cháu T đã trưởng thành nên không xem xét; Về tài sản chung, bà D khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về nợ chung, bà D khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện của bà Võ Thị Thùy D đề ngày 02/10/2023 (BL03) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Hồ Văn B có nơi cư trú tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Bị đơn ông Hồ Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông B vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông B là đúng quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà D và ông B đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (BL07). Việc đăng ký kết hôn giữa bà D và ông B là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2023 cũng như biên bản lấy lời khai ngày 26/10/2023 (BL22), bà D trình bày hiện nay vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông B nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông và bà D hàn gắn tình cảm vợ chồng tuy nhiên ông B vắng mặt, như vậy ông B có ý thức bỏ mặt việc bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Đồng thời, bà D trình bày vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Từ các tài liệu chứng cứ trên, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D là phù hợp.

[3] Về con chung: Tòa án đã thông báo cho ông B biết yêu cầu khởi kiện của bà D đối với vấn đề con chung khi ly hôn nhưng đến nay ông B không có ý phản đối. Đồng thời, xét thấy hiện nay cháu T đã trưởng thành, đang học Đại học Văn L còn cháu N hiện đang do bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Bên cạnh đó, tại biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 04/12/2023, cháu N trình bày có nguyện vọng sống chung với bà D. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao cháu N cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D tạm thời không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T đã trưởng thành, bà D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: bà D khai tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về các vấn đề khác: bà D khai không có nợ chung nên không xem xét.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà D phải chịu án phí ly hôn với số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thùy D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với ông Hồ Văn B, cụ thể như sau:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thùy D được ly hôn với ông Hồ Văn B.

1.2. Về con chung: Giao cháu Hồ Nhựt N, sinh ngày 24/4/2007 cho bà Võ Thị Thùy D trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Thùy D tạm thời không yêu cầu ông Hồ Văn B cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Hồ Minh T, sinh ngày 23/10/2003 đã trưởng thành, bà Võ Thị Thùy D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: bà Võ Thị Thùy D khai tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

1.4. Về các vấn đề khác: bà Võ Thị Thùy D khai không có nợ chung nên không xem xét.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Thùy D có nghĩa vụ chịu án phí ly hôn với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007309 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre (đã nộp xong).

3. Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị Thùy D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Ông Hồ Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • VKSND thành phố Bến Tre (1b);
  • TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • CCTHADS thành phố Bến Tre (1b);
  • UBND phường Phú Khương, thành phố Bến Tre
  • số 91/2002 Quyển số 01 (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Thanh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger