|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/DS-ST V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
Ngày: 02/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hổ
- Ông Trần Văn Hưng
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án
Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 271/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2023/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 197/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1985; (có mặt)
- Cư trú: 176 H, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Địa chỉ liên hệ: C Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Công ty TNHH MTV T; (vắng mặt)
- Địa chỉ trụ sở: 349C khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng V - Giám đốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/9/2023 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L trình bày:
Vào ngày 15/7/2022, bà Trần Thị Ngọc L và Công ty TNHH MTV T (viết tắt Công ty T) do ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện theo pháp luật của công ty có ký kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc ký hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích Công ty T cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L một phần thửa đất số 14 tờ bản đồ số 8, lô số 4, diện tích tạm tính 135m², địa chỉ thửa đất tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có sơ đồ vị trí đất kèm theo). Các bên thỏa thuận thời hạn giao đất 3 đến 6 tháng kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc, giá chuyển nhượng 370.000.000 đồng và phương thức thanh toán cụ thể như sau:
- - Đợt 1: ngày 10/5/2022, bà L thanh toán cho Công ty T số tiền cọc là 50.000.000 đồng ngay khi ký hợp đồng đặt cọc. Bà L đã thực hiện xong. Khi giao nhận số tiền này, Công ty T có lập biên nhận đối với bà L.
- - Đợt 2: trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc, bà L thanh toán cho Công ty T số tiền 135.000.000 đồng. Thực tế, vào ngày 05/8/2022, bà L đã giao cho Công ty T số tiền 125.000.000 đồng (Công ty T giảm cho bà L số tiền 10.000.000 đồng do bà L thanh toán tiền sớm hơn thỏa thuận). Khi giao nhận số tiền này, Công ty T có lập biên nhận đối với bà L.
- - Đợt 3: bà L thanh toán cho Công ty T số tiền 185.000.000 đồng khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng.
Đến ngày 15/01/2023 (đúng hạn 06 tháng), bà L đến Công ty T để tiến hành ý kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng Công ty T không chịu ký hợp đồng chuyển nhượng nên bà L chưa giao số tiền còn lại. Sau đó, Công ty T cứ hẹn dần, kéo dài đến tháng 5/2023. Vào ngày 06/5/2023, Công ty T mới tiến hành làm việc với bà L, khi làm việc các bên có tiến hành lập biên bản với nội dung Công ty T sẽ gửi lại tiền đặt cọc là 185.000.000 đồng và tiền lợi nhuận 100.000.000 đồng cho bà L, đồng thời Công ty T cam kết hoàn trả số tiền nêu trên trong vòng 45 ngày kể từ ngày 06/5/2023, cụ thể:
- - Ngày 11/5/2023, Công ty T sẽ thanh toán cho bà L số tiền 50.000.000 đồng.
- - Ngày 24/6/2023, Công ty T sẽ thanh toán cho bà L số tiền còn lại là 235.000.000 đồng.
Tuy nhiên, đến nay Công ty T không thực hiện theo thỏa thuận các bên đã ký kết ngày 06/5/2023. Bà L đã nhiều lần liên hệ với Công ty T cũng như ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện theo pháp luật của công ty nhưng phía Công ty T và ông V cứ hẹn ngày này quá ngày khác và chưa trả cho bà L bất cứ khoản tiền nào. Do đó, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Công ty T trả cho bà L số tiền 285.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn Công ty TNHH MTV T: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Công ty T theo đúng quy định pháp luật nhưng Công ty T vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà Trần Thị Ngọc L trình bày: bà thay đổi yêu cầu khởi kiện. Căn cứ theo biên nhận ngày 15/7/2022 và ngày 05/8/2022, Công ty T đã thực nhận của bà tổng số tiền 175.000.000 đồng, do đó bà L chỉ yêu cầu Công ty T trả cho bà số tiền 175.000.000 đồng. Bà không còn yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: theo đơn khởi kiện ngày 11/9/2023, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L khởi kiện buộc bị đơn Công ty TNHH MTV T trả số tiền cọc và tiền lợi nhuận là 285.000.000 đồng. Đối chiếu Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Về thẩm quyền giải quyết: căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bên cạnh đó, tại văn bản số 139/ĐKKD ngày 18/9/2023 của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở K xác nhận Công ty T có trụ sở tại C khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre và tình trạng pháp lý hiện đang hoạt động (BL17). Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Công ty T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt. Việc Công ty T vắng mặt được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty T.
Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện: Trước phiên tòa, căn cứ theo Biên bản làm việc ngày 06/5/2023 giữa bà L và Công ty T thì bà L khởi kiện yêu cầu Công ty T trả số tiền 285.000.000 đồng; tại phiên tòa bà L chỉ yêu cầu Công ty T trả cho bà L số tiền thực tế bà đã giao cho Công ty T là 175.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà L không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.
[2] Hợp đồng đặt cọc ngày 15/7/2022 được lập thành văn bản, bên đặt cọc bà Trần Thị Ngọc L và bên nhận đặt cọc Công ty T (người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Hoàng V) ký vào hợp đồng và đóng dấu mộc của Công ty T. Đối chiếu các điều 117, 119, 328 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng đặt cọc nêu trên có hình thức phù hợp theo quy định pháp luật. Theo nội dung hợp đồng ngày 15/7/2022 các bên thỏa thuận đối tượng hợp đồng đặt cọc là lô số 4 thuộc một phần thửa đất số 14 tờ bản đồ số 8 tại xã P thành phố B, tổng số tiền chuyển nhượng là 370.000.000 đồng, việc thanh toán tiền cọc và tiền chuyển nhượng quyền sử dụng được thanh toán trong 3 đợt. Xét thấy thỏa thuận nêu trên phù hợp, không vi phạm điều cấm pháp luật nên có hiệu lực pháp luật.
[3] Tại Điều 3 của hợp đồng đặt cọc ngày 15/7/2022 có nội dung: "Từ ngày ký hợp đồng đặt cọc đến ngày ký hợp đồng chuyển nhượng thời gian là trong vòng 3-6 tháng...". Đồng thời, tại Biên bản làm việc ngày 06/5/2023 giữa bà L với Công ty T có nội dung: "... Hiện tại, đã quá thời hạn nêu trên nên Hôm nay hai bên tiến hành lập biên bản làm việc này và thống nhất: Bên A sẽ gửi lại tiền đặt cọc 185.000.000 đồng + tiền lợi nhuận 100.000.000 đồng....". Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận Công ty T là bên có lỗi, vi phạm hợp đồng đặt cọc vì đã quá hạn 6 tháng tính từ ngày 15/7/2022 nhưng Công ty T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L theo như thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc đã giao kết. Bên cạnh đó, tại biên nhận ngày 15/7/2022 (BL09) và ngày 05/8/2022 (BL11) có đóng dấu của Công ty T thể hiện Giám đốc Nguyễn Hoàng V đã thực nhận của bà L tổng số tiền là 175.000.000 đồng. Do đó, bà L khởi kiện buộc Công ty T trả số tiền 175.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Bà Trần Thị Ngọc L không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy do yêu cầu khởi kiện của bà L được chấp nhận nên Công ty T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là: 5% x 175.000.000 đồng = 8.750.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các điều 116, 117, 122, 328, 410 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2 Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc L đối với bị đơn Công ty TNHH MTV T về việc "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc", cụ thể như sau:
Buộc Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Ngọc L số tiền 175.000.000 (một trăm bảy mươi lăm triệu) đồng.
Kể từ khi Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Án phí: Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 8.750.000 (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.
Bà Trần Thị Ngọc L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.125.000 (bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0007320 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Trần Thị Ngọc L có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Công ty TNHH MTV T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 01/2024/DS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 01/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
