Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HSST

Ngày 02-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy;
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 243/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc N, giới tính: nam, sinh năm 1993 tại tỉnh Tiền Giang; Địa chỉ thường trú: Ấp L, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: số H đường N, khu phố C, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Ngọc N1 và bà Nguyễn Thị N2; chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ, bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2023, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Tiêu Thị Út E, sinh năm 1968; Địa chỉ thường trú: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ tạm trú: Số H đường N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông An Huệ P, sinh năm 1968 - Chủ Hộ kinh doanh T; Địa chỉ: Số A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông An Huệ P - Chủ Hộ kinh doanh T: Ông Cao Thanh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 003050, quyển số 04 ngày 18/4/2023 tại Văn phòng C) (Vắng mặt).

  3. Công ty TNHH L1; Địa chỉ: Cửa hàng X, số A N, Khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
  4. Công ty T1; Địa chỉ: Tầng H, 9, 10 Tòa nhà G, Số B đường P, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 6/2023, Nguyễn Ngọc N chuyển đến sống chung cùng với bà Tiêu Thị Út E tại phòng trọ địa chỉ số H đường N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10/07/2023, bà Út E đứng tên giấy mua xe để mua trả góp chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xám, số khung RLHKF5613PZ003825, số máy KF56E-201035 với giá 51.700.000 đồng, bà Út E trả trước cho Cửa hàng xe máy Nam Tiến 2 thuộc Công ty TNHH L1 số tiền 13.110.000 đồng, thông qua giao dịch Công ty T1 cho bà Út E vay tiền trả cho Cửa hàng xe máy Nam Tiến 2 và bà Út E thế chấp chiếc xe nêu trên tại Công ty T1 theo Giấy đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W027970633 ngày 10/7/2023. Bà Út E để chiếc xe trên tại phòng trọ, xe chưa đăng kí biển số. Lợi dụng sự tin tưởng của bà Út E, N đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật, tạo lòng tin, lừa dối nhằm chiếm đoạt các tài sản của bà Tiêu Thị Út E, cụ thể như sau:

Ngày 19/7/2023, N hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda Vario nêu trên của bà Út E và các giấy tờ liên quan đến xe vì phải đi công việc xa trong thành phố, bà Út E đồng ý cho N mượn xe để đi công việc. Trên đường đi công việc về, do cần tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định muốn chiếm đoạt xe đi cầm. Nhũ lấy xe trên của bà Út E mang đi cầm tại cửa hàng C1 số A L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 10.000.000 đồng. Nhũ không nói cho bà Út E biết về việc đã cầm chiếc xe để lấy số tiền 10.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 20/7/2023, do N nói mượn xe đi công việc nhưng khi N về lại không có mang xe về nên bà Út E hỏi Nhũ xe đâu, thì N đưa ra thông tin sai sự thật là xe bị giao thông giữ, công an giữ để phạt ngoài nên không có giấy tờ phạt của Công an, đóng phạt 10.000.000 đồng mới trả xe về. Do bà Út E tin tưởng N nên không nghi ngờ gì với thông tin mà N đưa ra. Đến 15 giờ 00 phút, ngày 21/7/2023 bà Út E đưa cho N số tiền 10.000.000 đồng để N đóng phạt mang xe về. Sau khi lấy số tiền 10.000.000 đồng của bà Út E thì N tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 23/7/2023, không thấy N mang xe về nên bà Tiêu Thị Út E đến công an phường B, Quận G trình báo sự việc. Sau đó, công an phường B, Quận G mời Nhũ đến làm việc. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Ngọc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 202/KL-HĐĐGTTHS ngày 25/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G: 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vario, màu xám, chưa cấp biển số có số khung RLHKF5613PZ003825, số máy KF56E-2010357 trị giá 46.600.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Ngọc N lừa đảo chiếm đoạt được của bà Tiêu Thị Út E là 56.600.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 (Một) xe máy hiệu Honda Vario, màu xám, chưa cấp biển số có số khung RLHKF5613PZ003825, số máy KF56E-2010357. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho người bị hại bà Tiêu Thị Út E.
  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi 9T màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 861743056903449 sử dụng số thuê bao 0903704084 thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc N.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Người bị hại bà Tiêu Thị Út E đã nhận lại xe và số tiền 10.000.000 đồng, có đơn xin bãi nại và không có yêu cầu bồi thường.
  • Ông An Huệ P có người đại diện theo ủy quyền là ông Cao Thanh T - Chủ tiệm cầm đồ Tuệ Lâm không yêu cầu bị cáo N bồi thường số tiền 10.000.000 đồng đã nhận cầm xe.

Bản cáo trạng số 204/CT-VKSQ7 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Mặc dù lúc đầu bị cáo còn vòng vo về ý thức chủ quan của bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng sau quá trình hỏi, xét xử thì bị cáo Nguyễn Ngọc N đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội này tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Nguyễn Ngọc N đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Ngọc N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi 9T màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 861743056903449 sử dụng số thuê bao 0903704084.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận và biết hành vi của bị cáo là sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Nguyễn Ngọc N dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật, tạo lòng tin, lừa dối đối với người bị hại bà Tiêu Thị Út E, nhằm chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng và tài sản là xe máy hiệu Honda Vario, màu xám, chưa cấp biển số có số khung RLHKF5613PZ003825, số máy KF56E-2010357 theo kết luận định giá tài sản số 202/KL-HĐĐGTTHS ngày 25/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G thì xe có trị giá 46.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà N chiếm đoạt của bà Út E là 56.600.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Nguyễn Ngọc N đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo Nguyễn Ngọc N có nhân thân chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng do tham lam tư lợi, lười nhác lao động đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tại phiên tòa lúc đầu bị cáo trình bày ý thức chủ quan khi bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Út E không nghĩ là hành vi phạm tội nhưng sau này khi bị bắt thì bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai và sau đó bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án; bị cáo tác động gia đình sửa chữa khắc phục hậu quả cho người bị hại; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi được trả lại cho người bị hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 19/7/2023 và 21/7/2023 nên thuộc trường hợp phạm tội từ hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi 9T màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 861743056903449 sử dụng số thuê bao 0903704084 của Nguyễn Ngọc N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N.

Các vật chứng còn lại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại bà Tiêu Thị Út E đã nhận lại số tiền 10.000.000 đồng và tài sản là chiếc xe bị N chiếm đoạt, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không có yêu cầu gì thêm và bà Út E có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xét.

Chủ Hộ kinh doanh Tuệ Lâm không yêu cầu bị cáo N bồi thường về số tiền đã đưa N khi nhận cầm xe tại cửa hàng và vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Bị cáo Nguyễn Ngọc N khai cầm xe máy hiệu Honda Vario, màu xám, chưa cấp biển số có số khung RLHKF5613PZ003825, số máy KF56E-2010357 của bà Tiêu Thị Út E được số tiền 10.000.000 đồng, chủ Hộ kinh doanh Tuệ L không yêu cầu bị cáo N bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Do đó cần buộc bị cáo N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 10.000.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q đã đề nghị Công an phường T, quận T xử phạt hành chính đối với chủ tiệm C2 về hành vi vi phạm “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” là vi phạm Điểm 1 Khoản 2 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 là phù hợp.

[9] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Ngọc N 02 (Hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/7/2023.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N 01 điện thoại di động nhãn hiệu XiaoMi Redmi 9T màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 861743056903449 sử dụng số thuê bao 0903704084.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 034 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Nguyễn Ngọc N phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Căn cứ Khoản 1 Điều 333, Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Bị cáo Nguyễn Ngọc N được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Công an Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS (TK Dung).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HSST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 01/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Nh lừa đảo chiếm đạot tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger