Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 02/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Xuân Hào;

Bà Lê Thị Phương Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Văn B, sinh ngày 09/9/1994 tại Bình Phước. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T (chết) và bà Lý Thị T1, sinh năm 1977; tiền án: 02 tiền án, ngày 24/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 37/2020/HS-ST), chấp hành án tại Trại giam H1, ngày 29/01/2021, chấp hành xong hình phạt tù; ngày 23/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 65/2021/HS-ST), chấp hành án phạt tù tại Trạm giam X, chấp hành xong hình phạt ngày 14/10/2022 (chưa hết thời hạn được xóa án tích); tiền sự: 01 tiền sự, ngày 20/02/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 03/2023/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Ngày 26/6/2023, Huỳnh Văn B bỏ trốn khỏi cơ sở cai nghiện, ngày 27/6/2023, Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 613/QĐ-CSCNMT truy tìm người đã có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn đối với Huỳnh Văn B (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định).

Về nhân thân:

Ngày 02/7/2010, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự (Bản án số 50/2010/HSST)

Ngày 17/01/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 50/2010/HSST ngày 02/7/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước buộc B chấp hành hình phạt chung là 04 năm tù, chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2017.

Ngày 30/10/2019, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 930/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Bị cáo Huỳnh Văn B bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/7/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Đặng Thị Thùy T2, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Số A, khu phố E, T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn T4. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn T5. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2023, đối tượng tên N (không rõ nhân thân lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ rủ Huỳnh Văn B đến huyện P, tỉnh Bình Dương để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì B đồng ý. N đưa cho B 01 (một) thanh đoản bằng kim loại một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹp dài 8cm và 01 (một) cái tua vít bằng kim loại. Khoảng 18 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô chở Bảo lưu thông trên đường Đ hướng từ thành phố Đ đến huyện P. Khi đến tổ B, ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, N và B thấy 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 60F2-826.75 đang để trước sân trong nhà bà Đặng Thị Thùy T2, không ai trông coi. N đứng ở ngoài cảnh giới, B đi vào thấy trên xe mô tô có cắm sẵn chìa khóa, B đẩy xe mô tô ra khỏi sân nhà nổ máy thì bị bà T2 phát hiện truy hô. B liền điều khiển xe mô tô biển số 60F2-826.75 chạy về hướng tỉnh Bình Phước tẩu thoát, còn N điều khiển xe mô tô chạy (đi đâu không rõ). Bà T2 điện thoại trình báo Công an xã V. Sau đó, ông Nguyễn Văn B1 điện thoại cho anh Nguyễn Văn T4 và ông Nguyễn Văn T5 là (em ruột của ông B1) đang sinh sống tại ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước sự việc bị mất trộm xe mô tô biển số 60F2-826.75, đối tượng đang chạy về hướng Bình Phước, T5 và T4 mỗi người điều khiển một xe mô tô ra đường ĐT 741 chặn đối tượng. Khoảng 15 phút sau, anh T4 và ông T5 thấy B điều khiển xe mô tô 60F2-826.75 nên đuổi theo đến khu vực thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, anh T4 điều khiển xe mô tô áp sát B vào lề đường. B dừng xe lại, T4 dùng tay phải nắm cổ áo của B làm cả hai ngã xuống đường. Sau đó, B đứng dậy bỏ chạy bộ vào trong đường hẻm, anh T4 đuổi theo sau được khoảng 50 mét, B đứng lại lấy trong người ra 01 (một) thanh đoản bằng kim loại giơ về phía anh T4 chống trả lại không cho anh T4 đến gần. Liền lúc này, anh T5 cùng lực lượng Công an xã V vừa đến bắt giữ Huỳnh Văn B cùng tang vật đưa về trụ sở để làm việc.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu wave, màu xanh, biển số 60F2-826.75; 01 (một) điện thoại di động hiệu S J7; 01 (một) cái áo thun màu trắng bị rách, 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đồng hồ hiệu AIMISH màu vàng đen bằng kim loại, mặt đồng hồ bị nứt; số tiền 27.000 đồng (hai mươi bảy nghìn đồng); 01 (một) thanh kim loại một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹp dài 8cm.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSPG ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó vẫn giữ nguyên quyết định của cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Huỳnh Văn B, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B từ 3 (ba) năm tù đến 4 (bốn) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn B1, bà Đặng Thị Thùy T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H và bà T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự nên VKS không đề nghị.

Bị cáo Huỳnh Văn B không tranh luận gì thêm.

Trong đơn xin xét vắng mặt của bị hại ông Nguyễn Văn B1 và bà Đặng Thị Thùy T2 trình bày: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo Huỳnh Văn B nói lời nói sau cùng: Bị cáo mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Bị hại ông Nguyễn Văn B1 và bà Đặng Thị Thùy T2 có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Ngọc H, bà Nguyễn Thị T3 và người làm chứng anh Nguyễn Văn T4 và ông Nguyễn Văn T5 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra, ông B1, bà T2, ông H, bà T3, anh T4 và ông T5 đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, việc vắng mặt của ông B1, bà T2, ông H, bà T3, anh T4 và ông T5 không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn B đã khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2023, bị cáo Huỳnh Văn B và đối tượng N (không rõ nhân thân lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 60F2-826.75 của bị hại ông Nguyễn Văn B1 và bà Đặng Thị Thùy T2 ở tổ B, ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Huỳnh Văn B bỏ chạy về hướng tỉnh Bình Phước, thì bị anh Nguyễn Văn T4 và ông Nguyễn Văn T5 đuổi theo. Khi đến khu vực thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, anh T4 đuổi kịp bị cáo, bị cáo đứng dậy bỏ xe lại và chạy bộ vào trong đường hẻm. Anh T4 đuổi theo thì bị cáo đứng lại để chống trả lại anh T4 để tẩu thoát. Ngay sau đó, lực lượng Công an xã V vừa đến bắt giữ bị cáo cùng tang vật.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Huỳnh Văn B là người thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại ông Nguyễn Văn B1 và bà Đặng Thị Thùy T2 vào ngày 11/7/2023.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Theo Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 60F2-826.75, số máy JA39E0477949, số khung 3902HY502799 có giá trị 8.000.000 đồng (tám triệu đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo Huỳnh Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[5] Sau khi, bị cáo Huỳnh Văn B chiếm đoạt được tài sản của bị hại, trong quá trình truy đuổi bị cáo, bị bị cáo đã có hành vi chống trả lại nhằm tẩu thoát. Hành vi của bị cáo được coi là hành hung để tẩu thoát. Đồng thời bị cáo có 02 tiền án, chưa được xóa án tích tại Bản án số 65/2021/HS-ST ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đã xác định bị cáo tái phạm, nay bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, bị cáo Huỳnh Văn B phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là hành hung để tẩu thoát và tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[6] Do đó, Cáo trạng số 132/CT-VKSPG ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[7] Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Huỳnh Văn B có nhân thân xấu, có 02 tiền án và 01 tiền sự. Lẽ ra, sau khi chấp hành án xong, bị cáo phải phấn đấu để trở thành công dân có ích cho gia đình, cho xã hội nhưng bị cáo lại thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn B1 và bà Đặng Thị Thùy T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Ngọc H, bà Nguyễn Thị T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX ghi nhận.

[11] Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 60F2-826.75 do ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1974, địa chỉ: Số A, khu phố E, T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Cách đây 3 năm, ông H đã cho bà Nguyễn Thị T3 (chung sống với ông H như vợ chồng, không đăng ký kết hôn) xe mô tô biển số 60F2-826.35 làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 27/3/2022, bà T3 bán xe mô tô trên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B1 với số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Xét thấy, xe mô tô biển số 60F2-826.75 là tài sản hợp pháp của chủ sở hữu. Ngày 06/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra quyết định xử lý vật chứng giao lại tài sản trên cho ông B1. Ông B1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S J7, 01 (một) cái áo thun màu trắng bị rách, 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đồng hồ hiệu AIMISH màu vàng đen bằng kim loại, mặt đồng hồ bị nứt, số tiền 27.000 đồng (hai mươi bảy nghìn đồng). Xét thấy là tài sản của bị cáo Huỳnh Văn B, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo B.
  • - 01 (một) thanh kim loại một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹp dài 8cm. Xét thấy là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (một) cái tua vít bằng kim loại, bị cáo Huỳnh Văn B đã làm mất trên đường. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu hồi được nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[12] Đối với anh Nguyễn Văn T4, trong quá trình truy đuổi bị cáo Huỳnh Văn B, anh Nguyễn Văn T4 bị bị cáo B đạp vào bánh trước xe mô tô làm anh T4 té ngã xuống đường gây thương tích nhẹ, anh T4 không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý đối với hành vi của bị cáo B là phù hợp.

[13] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, các Điều 135, 136, 292, 293, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại ông Nguyễn Văn B1 và bà Đặng Thị Thùy T2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Ngọc H, bà Nguyễn Thị T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự.
  4. Về xử lý vật chứng của vụ án:
    • - Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn B: 01 (một) điện thoại di động hiệu S J7, màu đen (imei 1: 352810091886537, imei 2: 352811091886535), 01 (một) cái áo thun màu trắng đã bị xé rách, 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, 01 (một) đồng hồ hiệu AIMISH màu vàng đen bằng kim loại, mặt đồng hồ bị nứt, số tiền 27.000 đồng (hai mươi bảy nghìn đồng);
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thanh kim loại một đầu hình lục giác, một đầu mài dẹp dài 8cm.
    • (Thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; Uỷ nhiệm chi ngày 06 tháng 11 năm 2023, đơn vị trả tiền là Công an huyện P, tỉnh Bình Dương và đơn vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương)
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo;
  • - Công an huyện Phú Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - UBND phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (để thông báo);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Lâm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Hào

Lê Thị Phương Dung

Nguyễn Hữu Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn B - Tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger