|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày 02-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Huỳnh Liêm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Thạch Thanh Long
- - Ông Nguyễn Văn Điền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Lập – Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLHS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- - Bị cáo thứ nhất: Nguyễn Văn N, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1991.
- Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long
- Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Võ Thị Thu N1, sinh năm 1964; có vợ H Kúc N2, sinh năm 1996 và 02 con; tiền án: không có; Tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2023 và chuyển tạm giam ngày 18/7/2023 cho đến nay (Có mặt).
- - Bị cáo thứ hai: Nguyễn Thanh H, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1983.
- Nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long
- Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ (không xác định năm sinh) và bà Nguyễn Phương T, sinh năm 1958; không có vợ con; Tiền sự: không có; tiền án: 02 tiền án: Theo bản án số 16/2007/HSST ngày 23/5/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản và Bản án số 67/2010/HSPT ngày 24/11/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 18 năm tù về tội Cướp tài sản, cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào 27/9/2022 chưa xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2023 và chuyển tạm giam ngày 20/7/2023 cho đến nay (Có mặt).
- - Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tấn L là luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T tham gia bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N.
- - Người bị hại: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972
- Nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 06/7/2023 bà Nguyễn Thị P dựng xe mô tô mang biển kiểm soát 84L1 – 344.76, nhãn hiệu Honda, số loại Vision phía nhà sau, không có gắn chìa khóa trên xe. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày chồng bà Nguyễn Thị P là ông Phạm Văn D1 gài chốt cửa nhà sau. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/7/2023 bà P và ông D1 có nghe tiếng động phía sau nhà, sau đó nghe tiếng xe máy nổ phía lộ nhựa trước cửa nhà, bà P và ông D1 nghĩ là người đi đường nên không xuống nhà sau kiểm tra. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, bà P thức dậy đi ra nhà sau phát hiện xe mô tô mang biển kiểm sáot 84L1–344.76 bị mất. Đến ngày 11/7/2023 bà Nguyễn Thị P trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện C.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, Nguyễn Văn N khai nhận cùng Nguyễn Thanh H thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen tại nhà của bà Nguyễn Thị P vào ngày 07/7/2023.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn N đã khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/7/2023, Nguyễn Văn N đang ở nhà tọa lạc ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long thì Nguyễn Thanh H đến chơi, sau đó H rủ N đi lấy trộm xe mô tô bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì Nhiều đồng ý. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/07/2023, Nguyễn Văn N đến nhà bà M nơi Nguyễn Thanh H ở ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long để đưa cho N xem một cây đoản bằng kim loại chữ “L” và nói dùng để bẻ khóa xe rồi H cất giấu vào trong túi quần đang mặc. Sau khi thống nhất lấy trộm tài sản, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng, biển số 62 (các số sau không xác định là xe của H) chở N đến đầu đường vào nhà của bà P ở ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tại đây, H kêu N đứng cảnh giới canh đường ở ngoài đường nhựa nếu có người phát hiện thì gọi cho H bỏ chạy, còn H đi bộ từ đường nhựa vào nhà sau của bà P cách lộ nhựa khoảng 30 mét để lấy trộm. Khoảng 10 phút sau H dẫn xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen, mang biển kiểm soát 84L1 – 344.76 ra lộ nhựa rồi bẻ khóa xe mô tô vừa lấy trộm được, khởi động, điều khiển xe chạy trước, còn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng của H chạy phía sau đến nhà bà M, do xe mô tô mang biển kiểm soát 84L1 – 344.76 bị hư dây curo nên Nhiều trả mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng cho H rồi ra về.
Đến khoảng 17 giờ ngày 08/7/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, mang biển kiểm soát 84L1 – 344.76 còn Nhiều điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng đến xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long để sửa xe lấy trộm vào đêm trước, nhưng do tiệm sửa xe đóng cửa H trực tiếp đem xe mô tổ nhãn hiệu Honda, số loại Vision lấy trộm đến gửi tại quán cháo dơi tọa lạc ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn Minh N3, sinh năm 1980 làm chủ, sau đó H chở bị cáo N ra về.
Đến khoảng 08 giờ ngày 09/7/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng chở Nhiều đến quán cháo dơi của ông Nguyễn Minh N3 để lấy xe mô tô do trộm cắp mà có đã gửi trước đó đem đến tiệm sửa xe của ông Thạch H1, sinh năm 1982 tọa lạc ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long để sửa và gửi xe tại đây. Đến khoảng 11 giờ ngày 11/7/2023, H tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng chở bị cáo N đến tiệm sửa xe của ông Thạch H1, bị cáo H trực tiếp vào lấy xe sửa trước đó, trả tiền sửa xe với số tiền 780.000 đồng, sau khi lấy xe H điều khiển xe mô tô biển số 84L1 – 344.76, Nhiều điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu vàng về cất giấu tại nhà của bà M.
Đến khoảng 22 giờ ngày 11/7/2023, N đến nhà của bà M thì chỉ có một mình H ở nhà, lúc này Nhiều phát biện xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen mà H và N lấy trộm trước thay gắn số xe 59A3 – 368.75. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/7/2023 H tiếp tục rủ N đi lấy trộm xe mô tô ở xã Đ thì Nhiều đồng ý. H điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen gắn biển số 59A3 – 368.75 chở Nhiều từ nhà của bà M đi xã Đ, khi đến đoạn đường đal nông thông thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì gặp Tổ tuần tra của Công an huyện C nên H xuống xe và giao xe cho N rồi nhanh chóng bỏ chạy.
Ngày 14/7/2023, Cơ quan điều tra thi hành Lệnh giữ người người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thanh H về hành vi Trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thanh H không thừa nhận cùng với Nguyễn Văn N thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen, biển số: 84L1 - 344.76 của bà Nguyễn Thị P vào ngày 07/7/2023 và cho rằng lời trình bày của Nguyễn Văn N không đúng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, gắn biển số 5943 – 368.75, số khung: 5802EY853495, số máy: JF58E0853516; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, cán màu đỏ, trên cây kềm có dòng chữ “TOP”; 01 cây kềm bằng kim loại, cán màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C10 Plus, màn hình cảm ứng, màu xanh – đen, số IMEI 1: 358901156038041; số IMEI 2: 358901156038058, gắn thẻ sim số thuê bao 0704808252, điện thoại đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 31/KL- ĐGTS, ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen, số máy: JF58E0853516, số khung 5802EY853495, mang biển kiểm soát 84L1 – 344.76 có giá là 13.000.000 đồng. (Thể hiện qua bút lục số: 28, 29).
Đối với biển số xe 59A3 – 368.75, qua tra cứu chủ biển số xe là ông Tào Quang H2, sinh năm 1980, nơi thường trú 201 Lô B, khu A, Khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện tại ông H2 vẫn đang quản lý sử dụng xe mô tô biển số 59A3 – 368.75, trước giờ ông H2 không có cho, bán, tặng hay làm mất biển số 59A3 – 368.75. Qua tra cứu dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu truy nã, truy tìm của Bộ C xác định xe mô tô biển số 59A3 – 368.75 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng lưu trữ tại V cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C. Đối với biển số 84L1 – 344.76 Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Đối với bà Nguyễn Thị Ngọc M1 do không biết việc H và Nhiều cất giấu xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đen do trộm cắp mà có tại nhà của mình nên không vi phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi được, bị hại Nguyễn Thị P không yêu cầu bồi thường.
Cáo trạng số 60/CT-VKS-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố các bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn N không thừa nhận cùng với bị cáo Nguyễn Thanh H thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, gắn biển số 5943 – 368.75, số khung: 5802EY853495, số máy: JF58E0853516 của bà Nguyễn Thị P vào ngày 07/7/2023 như đã khai thừa nhận tội tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố nhưng bị cáo đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh H không thừa nhận hành vi lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen, biển số: 84L1 - 344.76 của bà Nguyễn Thị P vào ngày 07/7/2023.
Quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 60/CT-VKS-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 05 năm đến 06 năm tù. Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự để xử lý vật chứng và áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Tấn L tham gia gia bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Tại phiên toà sau khi Kiểm sát viên luận tội, bị cáo N đã thống nhất lời luận tội của kiểm sát viên nên thống nhất cáo trạng của Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của các bị cáo N. Bị cáo Nguyễn Văn N không có tiền án, tiền sự thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và tài sản trộm cắp có giá trị không lớn, hành vi phạm tội của bị cáo N thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án phạt tù bằng với thời gian mà bị cáo bị tạm giam.
Bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo N biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo còn bị cáo H không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc vắng mặt của bị hại bà Nguyễn Thị P nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và việc vắng của bị hại không cản trở đến việc xét xử nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra, bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo cùng với bị cáo H, lời khai của bị cáo N tại Cơ quan điều tra phù hợp với các lời khai của các nhân chứng thể hiện trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo N và bị cáo H không thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, biển số 84L1 – 344.76 được gắn đổi thành biển số 59A3 – 368.75 của bị hại như lời khai tại Cơ quan điều tra. Khi đó, bị cáo N cho rằng do bị ép cung và việc trộm xe của bị hại là do bị cáo H thực hiện một mình bị cáo không có tham gia còn bị cáo H cho rằng, xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, biển số 59A3 – 368.75 là của bị cáo H mua của người đàn ông 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) ở xã B, thị xã K, tỉnh Long An, xe mua không có giấy tờ, giá 3.000.000 đồng (mua xe từ nguồn tiền dành dụm). Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù bị cáo N và bị cáo H không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản. Nhưng căn cứ vào lời khai của các nhân chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường vụ trộm, bảng ảnh, vật chứng là tài sản trộm được thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, biển số 59A3 – 368.75 được gắn đổi từ biển số thật 84L1 – 344.76 có số khung: 5802EY853495, số máy: JF58E0853516 phù hợp với xe của bị hại bà Nguyễn Thị P bị mất trộm vào đêm khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/07/2023. Tất cả các chứng cứ đều phù hợp với lời khai của bị cáo N khai tại cơ quan điều tra Công an huyện C. Nhận thấy lời chối tội của bị cáo N và bị cáo H là không có cơ sở. Như vậy, có đủ cơ sở xác định vào khoảng 00 giờ ngày 08 tháng 7 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn N cùng với bị cáo Nguyễn Thanh H có hành vi trộm cắp tài sản chiếc xe số loại Vision, màu sơn đen, biển kiểm soát 84L1 – 344.76 của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972, nơi thường trú ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh có giá trị theo kết quả định giá là 13.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn N với vai trò canh giới, canh người qua lại, canh công an để thông báo cho bị cáo H tẩu thoát. Sau khi lấy được tài sản thì bị cáo H thay đổi biển kiểm sát thành 59A3-368.75. Đến khoảng 22 giờ ngày 11 tháng 7 năm 2023 hai bị cáo điều khiển xe đã lấy trộm đi đến xã Đ, huyện C để tìm tài sản tiếp tục hành vi phạm tội. Khi đi đến ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì phát hiện có Tổ Tuần tra của Công an huyện C thì bị cáo H xuống xe bỏ chạy theo đường ruộng lác. Đồng thời, giao xe cho bị cáo N thì bị cáo N được Tổ Tuần tra mời làm việc tại Cơ quan điều tra. Bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bị Nguyễn Thị P cùng với bị cáo H. Tại phiên toà, bị cáo N đã thừa nhận hành vi phạm tội như lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát còn bị cáo H không tranh luận gì về hành vi phạm tội như lời luận tội của Vị đại diện Viện kiểm sát. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Nguyễn Văn N cùng đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử nhận thấy, đây là vụ án có đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người khởi xướng đi trộm và kêu bị cáo N làm theo các yêu cầu của bị cáo H để canh gác. Tài sản trộm được theo Bản kết luận định giá tài sản số: 31/KL- ĐGTS, ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Trà Vinh xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đen, số máy: JF58E0853516, số khung 5802EY853495, mang biển kiểm soát 84L1 – 344.76 có giá là 13.000.000 đồng. Do đó, bị cáo N biết là đi trộm và đồng ý làm theo các yêu cầu của bị cáo H. Mặc dù, bị cáo N không biết bị cáo H trộm được những gì, trị giá bao nhiêu, nhưng bị cáo N biết bị cáo H đột nhập vào nhà của bị hại là để trộm tài sản, đã giúp sức tích cực cho bị cáo H nên phải cùng chịu trách nhiệm hình sự trên số tài sản mà bị cáo H trộm được. Xét tính chất của vụ án đối với bị cáo N là ít nghiêm trọng. Bị cáo H là người khởi xướng thực hiện tội phạm, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, khi bị phát hiện thì khai báo gian dối, quá trình điều tra không nhận thức được sai phạm của mình, không thừa nhận hành vi phạm tội. Xét tính chất của vụ án đối với bị cáo H là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thanh H và Nguyễn Văn N là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi cá nhân, bị cáo lợi dụng sự sơ hở quản lý tài sản của chủ sở hữu, đã thực hiện hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của bản thân, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm, phải có một mức hình phạt thích đáng để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này, đồng thời đảm bảo nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì muốn tư lợi bất chính nên đã thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đối với bị cáo N, phạm tội với vai trò giúp sức, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tích cực hợp tác giúp Cơ quan Cảnh sát điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được trợ giúp viên pháp lý, Kiểm sát viên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm i, s khoản 1, khoảng 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo H, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án: Theo bản án số 16/2007/HSST ngày 23/5/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản và Bản án số 67/2010/HSPT ngày 24/11/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 18 năm tù về tội Cướp tài sản, cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản, bị cáo chấp hành xong hình phạt vào 27/9/2022 chưa xóa án tích nhưng không phục thiện mà tiếp tục phạm tội, khi phạm tội lại không hối lỗi, có hành vi nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội lần này của bị cáo H thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng định khung. Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nên cần xử phạt thật nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự có thể áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nhưng xét thấy các bị cáo phạm tội với số tài sản trộm cắp không lớn và đã thu hồi lại được tài sản nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Xử lý tang vật và vật chứng: Vật chứng đang tạm giử tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, số khung: 5802EY853495, số máy: JF58E0853516 được giao trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ P1. Đối với biển số 84L1 – 344.76 Cơ quan điều tra không thu hồi được, do đó bà P1 được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc cấp lại biển số xe theo quy định pháp luật. Đối với biển số 59A3 – 368.75 qua tra cứu dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu truy nã, truy tìm của Bộ C xác định xe mô tô biển số 59A3 – 368.75 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng lưu trữ tại V cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C nên giao cho Cơ quan Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền; 01 (một) cây kềm bằng kim loại, cán màu đỏ, trên cây kềm có dòng chữ “TOP”; 01 cây kềm bằng kim loại, cán màu xanh đen là công cụ dùng để hỗ trợ trong việc phạm tội nên cần tịch thu thu sung công quỹ Nhà Nước; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C10 Plus, màn hình cảm ứng, màu xanh – đen, số IMEI 1: 358901156038041; số IMEI 2: 358901156038058, gắn thẻ sim số thuê bao 0704808252, điện thoại đã qua sử dụng của bị cáo H sau khi kiểm tra không phát hiện liên quan đến việc phạm tội nên được trả lại cho bị cáo H; 02 đĩa video camera ghi lời khai của bị cáo N và bị cáo H được lưu vào hồ sơ.
[8] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát và Trợ giúp viên pháp lý: Tại phiên tòa, các đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát và Trợ giúp viên pháp lý về điều luật áp dụng, về tình tiết giảm nhẹ, về xử lý vật chứng, về án phí là có căn cứ và phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với việc đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý tham gia bào chữa cho bị cáo N xem xét hình phạt cho bị cáo N được hưởng mức án phạt bằng với thời gian bị tạm giam là chưa phù hợp. Bởi lẽ, hành vi phạm tội của bị cáo N tuy ít nghiêm trọng nhưng gây ảnh hưởng lớn đến trật tự địa phương, do hiện nay tình trạng trộm cắp tài sản thường xuyên xãy ra nên cần xử phạt nghiêm khắc hơn để nhằm giáo dục và răn đe cho những người khác.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn N thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn nộp. Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 45; Điều 260; Điều 268; Điều 269; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293, Điều 299; khoản 1 Điều 329; Điều 331; và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2023.
- - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 05 (năm) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2023.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ P1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu đen, số khung: 5802EY853495, số máy: JF58E0853516. Đối với biển số 84L1 – 344.76 Cơ quan điều tra không thu hồi được, do đó bà P1 được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc cấp lại biển số xe theo quy định pháp luật. Đối với biển số 59A3 – 368.75 qua tra cứu dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu truy nã, truy tìm của Bộ C xác định xe mô tô biển số 59A3 – 368.75 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng lưu trữ tại V cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C nên giao cho Cơ quan Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền.
- - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước gồm: 01 (một) cây kềm bằng kim loại, cán màu đỏ, trên cây kềm có dòng chữ “TOP”; 01 cây kềm bằng kim loại, cán màu xanh đen.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C10 Plus, màn hình cảm ứng, màu xanh – đen, số IMEI 1: 358901156038041; số IMEI 2: 358901156038058, gắn thẻ sim số thuê bao 0704808252, điện thoại đã qua sử dụng.
- - 02 đĩa video camera ghi lời khai của bị cáo N và bị cáo H được lưu vào hồ sơ.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghịquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ QuốcHội;
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn N thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn nộp.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 02/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 01/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Nhiều, bị cáo Nguyễn Thanh Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
