Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – LÀO CAI


Bản án số: 01/2026/HS-ST
Ngày 05 - 01 - 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Giang Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Hưởng và ông Nguyễn Kim Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Thiện N (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 23/7/1990 tại Lào Cai; Nơi cư trú: số nhà B đường N, tổ G, phường L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Thanh X và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Triệu Thục L1 (Đã ly hôn) và 02 con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/7/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L. Có mặt.

  • Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Nam K - Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.
  • Bị hại: Chị Trương Hương M - Chủ hộ kinh doanh Trương Hương M. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trương Ngọc H; Địa chỉ: Tổ B K, phường L, tỉnh Lào Cai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Thanh X và bà Nguyễn Thị L; Địa chỉ: số nhà B đường N, tổ G, phường L, tỉnh Lào Cai. Ông xuân có mặt, bà L vắng mặt.
  • Người làm chứng: chị Khúc Thị Hà M1, anh Lê Quang T, anh Trần T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2020 Trương Thiện N được ông Trương Ngọc H là bác ruột nhận vào làm nhân viên bán xe của cửa hàng mua bán xe ô tô cũ đã qua sử dụng Auto M, cửa hàng có đăng ký hộ kinh doanh Trương Hương M tại địa chỉ số A đường T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai (nay là phường C, tỉnh Lào Cai) do ông Trương Ngọc H được uỷ quyền trực tiếp quản lý điều hành. Khi nhận vào làm việc không có hợp đồng, N được giao nhiệm vụ giao dịch mua bán xe với khách. Ngày 23/01/2022 N giao dịch bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 biển số 24A-060.33 của cửa hàng cho anh Trần T1 với giá 380.000.000đ. Anh T2 đã chuyển khoản đặt cọc trước cho N 150.000.000đ, N đã chuyển lại số tiền này cho ông H. Số tiền còn lại 230.000.000đ ngày 26/01/2022 anh T2 tiếp tục chuyển khoản cho N thêm 50.000.000đ và N hướng dẫn anh T2 làm thủ tục thế chấp xe vay ngân hàng T3 180.000.000đ để trả tiền.

Ngày 27/01/2022, bị cáo hỏi mượn ông H chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu Chevrolet Colorado màu đỏ biển số 24H-297.20 bày bán ở cửa hàng để làm phương tiện đi lại trong dịp Tết nguyên đán và được ông H đồng ý, bị cáo đã lấy xe. Do khi mua lại chiếc xe ông H đã rút hồ sơ gốc tại Cơ quan công an và biển số xe đã bị thu hồi nên N đã đến gặp chị Khúc Thị Trà M2 (là con dâu ông H và là kế toán của cửa hàng) để mượn bộ hồ sơ gốc đi lại cho tiện.

Ngày 28/01/2022 Ngân hàng T3 giải ngân số tiền thế chấp xe của anh Trần T1 là 180.000.000đ vào tài khoản của N. Sau khi nhận tiền, do bị nhiều người đòi nợ nên bị cáo không chuyển lại tiền cho ông H mà nảy sinh ý định sử dụng 230.000.000đ mà anh T1 và Ngân hàng thanh toán tiền xe Mazda2 để trả nợ. Do vẫn không đủ trả nợ nên N tiếp tục nảy sinh ý định mang chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu Chevrolet Colorado màu đỏ đã mượn của cửa hàng đi cầm cố để lấy tiền trả nợ. Bị cáo liên hệ với anh Lê Quang T tại đường H, phường C, thành phố L (nay là phường L, tỉnh Lào Cai) và điều khiển xe mang theo bộ hồ sơ gốc đến cầm cố cho T với số tiền 430.000.000đ đồng. Toàn bộ số tiền có được, bị cáo đã trả nợ cho nhiều người trong đó trả cho chị Trịnh Thị Thu H1 354.200.000đ, trả cho chị Trương Thúy G 40.000.000đ, trả bà Nguyễn Thị L 10.600.000đ và trả nợ cho nhiều người khác nhưng không nhớ tên. Sau Tết nguyên đán, ông H yêu cầu N trả lại xe ô tô Chevrolet Colorado màu đỏ và số tiền 230 triệu bán xe Mazda 2, do không có khả năng trả nên bị cáo đã bỏ trốn. Trong thời gian bị cáo bỏ trốn, anh T yêu cầu N trả tiền để chuộc xe bán tải, bị cáo không có tiền nên đã đồng ý cho anh T bán xe ô tô và anh T đã bán xe cho anh Nguyễn Thành L2 (địa chỉ: Thôn M, xã T, tỉnh Ninh Bình), anh L2 đã đăng ký quyền sở hữu đối với chiếc xe ô tô và được cấp biển số đăng ký mới.

Tại bản kết luận định giá số 03/KL-HĐĐG ngày 10/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường L, tỉnh Lào Cai kết luận: Giá trị của chiếc xe ô tô Chevrolet Colorado màu đỏ biển số 29H-297.20 tại thời điểm tháng 01/2022 là 524.400.000đ.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trương Thiện N về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trương Thiện N khai nhận: Bị cáo được ông Trương Ngọc H là bác ruột tin tưởng giao nhiệm vụ bán xe ô tô và thu tiền về cửa hàng, tháng 01/2022 sau khi bán chiếc xe ô tô Mazda 2 biển kiểm soát 24A-060.33 cho anh Trần T1 được 380.000.000 đồng, bị cáo mới chuyển lại cho ông Trương Ngọc H 150.000.000đ, còn lại 230.000.000đ đến ngày 28/01/2022 sau khi nhận được tiền bị cáo đã không chuyển trả cho ông H mà nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền để trả nợ. Cùng ngày 28/01/2022 bị cáo được ông H cho mượn chiếc xe ô tô Chevrolet Colorado màu đỏ biển số 29H-297.20 bày bán ở cửa hàng để sử dụng, sau khi mượn bị cáo đã nảy sinh ý định mang chiếc xe đi cầm cố được số tiền 430.000.000đ để trả nợ. Sau khi dùng toàn bộ số tiền có được trả nợ cho nhiều người, bị cáo không có khả năng trả lại tài sản cho ông H nên đã bỏ trốn. Theo định giá của cơ quan chức năng, chiếc xe ô tô bán tải Chevrolet Colorado màu đỏ trị giá 524.400.000đ, như vậy tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 754.400.000đ, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

[3]. Bị cáo Trương Thiện N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, bị cáo hiểu rõ tài sản không thuộc sở hữu của mình nhưng vẫn lợi dụng sự tin tưởng của ông Trương Ngọc H là người trực tiếp quản lý điều hành cửa hàng buôn bán xe ô tô cũ, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, do đó cần xử lý nghiêm minh để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo có ông bà nội là người có công được tặng thưởng huân huy chương và ông Trương Ngọc H có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đồng ý để bố đẻ là ông Trương Thanh X bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, tuy nhiên số tiền bồi thường không đáng kể so với thiệt hại bị cáo gây ra. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt tài sản tổng giá trị là 754.400.000đ, ông Trương Ngọc H là đại diện bị hại đã nhận được số tiền bồi thường là 100.000.000đ, đến nay ông H yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại 654.400.000đ. Do đó cần buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 654.400.000đ.

[6]. Hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

[7]. Vấn đề khác liên quan tới vụ án: Đối với ông Trương Thanh X và bà Nguyễn Thị L đã sử dụng số tiền là 100.000.000đ để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo N, đến nay ông bà không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền trên. Đối với anh Lê Quang T là người nhận cầm cố chiếc xe Chevrolet từ bị cáo N, quá trình điều tra xác định anh T không biết chiếc xe là do bị cáo N phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm là đúng pháp luật. Anh T đã bán lại chiếc xe để thu hồi số tiền nhận cầm cố xe của bị cáo N, đến nay anh không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Đối với anh Nguyễn Thành L2 là người mua lại chiếc xe ô tô Chevrolet, khi mua anh không biết về nguồn gốc chiếc xe là do phạm tội mà có và sau khi mua xe anh đã làm thủ tục đăng ký theo đúng quy định, vì vậy cơ quan điều tra không thu hồi xe là phù hợp.

[8]. Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động Iphone Xr màu trắng, chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9]. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa: Tại phiên toà bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 năm 03 tháng đến 12 năm 09 tháng là quá nghiêm khắc. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tuy nhiên căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì không đủ căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Thiện N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
    Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
    Xử phạt bị cáo Trương Thiện N 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18/7/2025.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật dân sự
    Buộc bị cáo Trương Thiện N phải bồi thường cho chị Trương Hương M là Chủ hộ kinh doanh Trương Hương M (do ông Trương Ngọc H là người đại diện theo uỷ quyền) số tiền 654.400.000đ.
    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự 2015.
  3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr màu trắng số IMEI 358803091529391, Số IMEI 2 358803091849666
    Vật chứng đã được bàn giao cho Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 Lào Cai theo biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 30/12/2025.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    Buộc bị cáo Trương Thiện N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 30.176.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng hai khoản là 30.376.000đ.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Các Hội thẩm nhân dân



Nguyễn Kim Minh     Bùi Xuân Hưởng
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà



Hoàng Thị Giang Thanh
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND KV6;
- PV06 Công an tỉnh LC;
- Bị cáo; Người bào chữa;
- Bị hại;
- Người có QLNVLQ;
- Thi hành án hình sự;
- Lưu HS, VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Hoàng Thị Giang Thanh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HS-ST ngày 05/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 01/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thiện N - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger