|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – TUYÊN QUANG _________________ Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST Ngày 06 tháng 01 năm 2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Vĩnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lương Thị Nhiễu
- Ông Vàng Mí Chỏ
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hữu Toàn – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2025/TLST- HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/QĐST-DS, ngày 22 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hạ Thị D, sinh năm 1999; dân tộc: Mông; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước số: [...], cấp ngày 14/10/2024, nơi cấp: Bộ C; địa chỉ: Thôn S, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử mặt ngày 22/12/2025.
2. Bị đơn: Anh Sùng Mí N, sinh năm 1993; dân tộc: Mông; nghề nghiệp: Lao động tự do; Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 07/01/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; địa chỉ: Thôn S, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 11/9/2025 và đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 22/12/2025 chị Hạ Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Sùng Mí N, sinh năm 1993 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08/8/2019 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là xã S, tỉnh Tuyên Quang). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn S, xã S, tỉnh Tuyên Quang được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N thường xuyên tụ tập bạn bè, chơi cờ bạc, dẫn đến nợ nần chồng chất, kinh tế gia đình ngày càng khó khăn và không quan tâm đến vợ con, mặc dù chị D và người thân trong gia đình đã khuyên nhủ, động viên anh N nhiều lần nhưng đều không có kết quả, anh N vẫn chứng nào tật đấy, nên vợ chồng không còn chung quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể khắc phục để tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sùng Mí N.
Về con chung: Chị D xác nhận chị và anh N có 01 con chung tên là Sùng Gia K, sinh ngày 21/9/2019, hiện đang ở cùng anh N. Ly hôn chị D đề nghị anh N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chị cấp dưỡng nuôi con cùng anh N với mức 3.000.000 đồng một tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/01/2026 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai hay ai nợ vợ chồng, không yêu cầu Tòa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Hạ Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Sùng Mí N có nơi cư trú tại thôn S, xã S, tỉnh Tuyên Quang là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hạ Thị D và anh Sùng Mí N đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Hà Giang vào ngày 08/8/2019 nên hôn nhân giữa chị D, anh N là hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh N chơi bời, không tu chí làm ăn, dẫn đến nợ nần. Chị D và gia đình đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Hai người đã sống ly thân từ năm 2021. Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
[5] Về con chung: Cháu Sùng Gia K, sinh ngày 21/9/2019 hiện đang ở với anh N và ông bà nội. Để đảm bảo sự ổn định cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu K cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng từ ngày 01/01/2026 đến khi cháu K đủ 18 tuổi là phù hợp quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hạ Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hạ Thị D được ly hôn với anh Sùng Mí N.
- Về con chung: Giao cháu Sùng Gia K, sinh ngày 21/9/2019 cho anh Sùng Mí N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị Hạ Thị D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 đồng một tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày 01/01/2026 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng cho chị Hạ Thị D.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Đoàn Ngọc Vĩnh |
Bản án số 01/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Tuyên Quang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 – Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chị Hạ Thị D và anh Sùng Mí N đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là xã S, tỉnh Tuyên Quang) vào ngày 08/8/2019 nên hôn nhân giữa chị D, anh N là hợp pháp. Về căn cứ cho ly hôn: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N thường xuyên tụ tập bạn bè, chơi cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, dẫn đến nợ nần chồng chất, kinh tế gia đình ngày càng khó khăn. Chị D và người thân trong gia đình đã khuyên nhủ, động viên anh N nhiều lần nhưng không có kết quả, anh N vẫn chứng nào tật đấy nên vợ chồng việc ai người đó làm và không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, chị D xin ly hôn anh N vì tình cảm vợ chồng không còn và không thể khắc phục được; xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, kéo dài, các bên cũng không thiết tha tìm biện pháp hòa giải đoàn tụ, anh N còn cố tình trốn tránh không có mặt tại Tòa án khi được thông báo triệu tập, không có ý kiến gì về việc chị D xin ly hôn anh dẫn đến hôn nhân giữa chị D và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị D cho chị Hạ Thị D được ly hôn với anh Sùng Mí N là phù hợp đúng với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
