Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH


Bản án số: 01/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06/01/2026
V/v “tranh chấp về xác định
cha cho con”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Hồng và ông Phan Văn Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 06/01/2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2025/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2025 về việc “tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-DS ngày 15/12/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Bùi Công L; sinh năm 1989; số CCCD: [...], cấp ngày 28/6/2021; địa chỉ: Thôn N, phường H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm 1989; số CCCD: [...], cấp ngày 07/01/2022; địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn T; sinh năm 1989; số định danh cá nhân: 025089007444; địa chỉ: Khu D, xã L, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Bùi Công L trình bày:

Vào năm 2021 anh có quen biết, quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị H cư trú tại thôn L, xã T và đến năm 2022 thì chị H mang thai sinh con đặt tên là Nguyễn Thị Cát T1. Do thời điểm đó chị H đã sống ly thân với chồng cũ là anh Bùi Văn T nhưng chưa làm thủ tục ly hôn nên khi chị H đi đăng ký khai sinh tại UBND xã T thì chị không khai tên cha của cháu T1 và tại thời điểm đó chị H chưa ly hôn với anh T nên anh và chị H chưa đăng ký kết hôn được. Đến ngày 18/7/2025, chị H với anh T đã ly hôn theo bản án số 02/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ. Nay anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh xác định giữa anh và cháu Nguyễn Thị Cát T1, sinh ngày 30/9/2022, có mối quan hệ cha con.

Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Bản sao giấy khai sinh, căn cước của cháu T1; bản sao căn cước công dân, xác nhận thông tin cư trú của anh L; bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ; đơn xin miễn tạm ứng án phí Tòa án.

Tại văn bản trình bày ý kiến, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị thừa nhận các nội dung liên quan đến quá trình quen biết, nảy sinh tình cảm, cũng như quá trình sinh con, yêu cầu khởi kiện của anh L là đúng thực tế.

Vào năm 2010, chị đăng ký kết hôn với anh Bùi Văn T tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh T sa vào tệ nạn xã hội và phải đi chấp hành án phạt tù nên chị bỏ đi vào N làm ăn và sau đó về quê sinh sống. Trong thời gian về quê sinh sống, năm 2021 chị có quen biết và có tình cảm với anh Bùi Công L. Do chị nghĩ rằng chị và anh T đã ly thân từ lâu, coi như đã ly hôn với anh T nên chị có quan hệ tình cảm với anh L và đến ngày 30/9/2022 thì chị sinh con tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh H.

Đến năm 2025, chị liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba (cũ), tỉnh Phú Thọ để giải quyết ly hôn với anh T và đến ngày 18/7/2025 Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ xét xử chấp nhận ly hôn giữa chị và anh T theo bản án ly hôn số 02/2025/HNGĐ-ST. Khi giải quyết ly hôn với anh T, do chị nghĩ rằng cháu Cát T1 là con riêng của chị và trong giấy đăng ký khai sinh chị khai cháu Cát T1 mang họ mẹ và phần về tên cha không mang tên anh T nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi chị ly hôn với anh T thì chị đã đăng ký kết hôn với anh L và anh L liên hệ với UBND xã để yêu cầu đăng ký khai sinh mang tên cha của cháu Nguyễn Thị Cát T1 thì vướng về thủ tục pháp lý tại địa phương không thực hiện được. Nay anh L làm đơn yêu cầu xác định anh L là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Cát T1 (con của chị sinh ra) là đúng thực tế.

Các tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp: Bản tự khai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, ngày 20/10/2025 Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh ban hành Quyết định ủy thác cho Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn T. Tuy nhiên anh Bùi Văn T không có mặt tại địa phương nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai được, do đó Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định.

Ngày 21/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ để thực hiện giám định quan hệ huyết thống giữa anh Bùi Công L và cháu Nguyễn Thị Cát T1, sinh ngày 30/9/2022 do chị Nguyễn Thị Hà S ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh H. Tại Kết quả phân tích ADN số 251030IG/DNA ngày 24/10/2025 của Công ty TNHH Đ kết luận: Anh Bùi Công L có quan hệ huyết thống bố - con với Nguyễn Thị Cát T1, độ tin cậy >99,9999%.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn T không có mặt, không có ý kiến trình bày gửi Tòa án. Do đó vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý kiến như sau:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý đơn, giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt, không thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật;
  • Về ý kiến giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, căn cứ khoản 1 Điều 89, Điều 91, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b Khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xác định anh Bùi Công L là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Cát T1, sinh ngày 30/9/2022. Về án phí, đề nghị miễn án phí xác định cha con cho anh L theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Anh Bùi Công L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh giải quyết xác định cha cho con theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị H có địa chỉ cư trú tại xã T, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo hòa giải cho các bên đương sự theo quy định nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn T không có mặt tại các buổi hòa giải. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Tòa án đã ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn T nhưng anh T đã vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Công L, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, đến ngày bản án ly hôn sơ thẩm số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ có hiệu lực pháp luật mới chấm dứt quan hệ hôn nhân. Chị H sinh cháu Nguyễn Thị Cát T1 vào ngày 30/9/2022 thuộc trường hợp “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân... là con chung của vợ chồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, theo quy định của pháp luật thì cháu Nguyễn Thị Cát T1 là con chung trong thời kỳ hôn nhân giữa chị H và anh T.

[2.2] Anh Bùi Công L và chị Nguyễn Thị H đều trình bày anh chị quen biết, có quan hệ tình cảm từ năm 2021 và đều khẳng định cháu Nguyễn Thị Cát T1, sinh ngày 30/9/2022, con của chị H có bố đẻ là anh Bùi Công L. Tại bản án ly hôn số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 18/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ đã xác định rõ tình tiết chị H với chồng cũ là anh Bùi Văn T phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh T đi chấp hành hình phạt tù trong thời gian dài, vợ chồng sống ly thân, không còn quan hệ với nhau. Kết quả phân tích ADN số 251030IG/DNA ngày 24/10/2025 của Công ty TNHH Đ kết luận anh Bùi Công L có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Nguyễn Thị Cát T1, với độ tin cậy >99,9999%. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của anh L là hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của chị H và phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã xem xét tại phiên tòa, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Bùi Công L là cha đẻ cháu Nguyễn Thị Cát T1, sinh ngày 30/9/2022.

[3] Về chi phí tố tụng giám định huyết thống nguyên đơn đã nộp đủ chi phí, không ai có yêu cầu gì Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Anh Bùi Công L thuộc trường hợp được miễn tiền án phí xác định cha cho con chưa thành niên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Công L về xác định cha cho con.
    Xác định anh Bùi Công L; sinh năm 1989; số CCCD: [...], địa chỉ thôn N, phường H, tỉnh Hà Tĩnh có mối quan hệ là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Cát T1, sinh ngày 30/9/2022 (theo Giấy khai sinh số 88/2022 ngày 11/11/2022 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã T, tỉnh Hà Tĩnh).
  2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Bùi Công L.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Công L, chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND KV1 - Hà Tĩnh;
- UBND xã Thạch Xuân, tỉnh Hà Tĩnh;
- Phòng THADS KV1 - Hà Tĩnh;
- TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- Lưu HSVA, VPTA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)


Nguyễn Thanh Tùng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HNGĐ-ST ngày 06/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh về tranh chấp về xác định cha cho con

  • Số bản án: 01/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án xác định cha con L-H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger