Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

Bản án số: 01/2026/HNGĐ- ST

Ngày: 05/01/2026

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Sinh, ông Hoàng Văn Mùi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Thuỷ- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 253/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/12/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 29/12/1995; Căn cước công dân số: [...]; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường C, thành phố Hải Phòng; hiện đang lao động tại Nhật Bản (địa chỉ: F, ken tagawa, shi chiyo machi 12-7KM, haisu VI D tou 107, Nhật Bản).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Huy D, sinh ngày 16/4/1995; CMND số: [...]; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường C, thành phố Hải Phòng; hiện đang lao động tại Nhật Bản.

Người đại diện theo uỷ quyền nhận văn bản tố tụng của chị H: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố Hải Phòng.

Chị H, anh D và chị C đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 03/9/2025, chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Huy D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thị xã C, tỉnh Hải Dương (nay là phường C, thành phố Hải Phòng) vào ngày 12/10/2015. Sau khi kết hôn, chị và anh D về chung sống cùng nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh D thuộc thôn H, phường V, thị xã C, tỉnh Hải Dương (nay là Tổ dân phố H, phường C, thành phố Hải Phòng). Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do áp lực với cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, công việc và thu nhập trong nước không ổn định nên cuối năm 2019 chị quyết định đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Năm 2025, anh D cũng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Do hai vợ chồng đã có mâu thuẫn với nhau từ khi còn ở trong nước nên khi anh D sang N làm việc thì chị và anh D không ở cùng nhau và cũng không gặp gỡ hay liên lạc với nhau, chỉ thi thoảng chị gọi về hỏi thăm con chung còn hai vợ chồng không liên lạc, quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vợ chồng chị mâu thuẫn nhau một thời gian dài, bố mẹ, gia đình hai bên đều biết, có khuyên giải, động viên nhiều lần nhưng không thành. Chị có trao đổi với anh D về việc giải quyết ly hôn để hai bên giải thoát cho nhau thì anh D có đồng ý. Đến nay, chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 13/5/2016. Hiện cháu K đang ở cùng bố mẹ anh D là ông Nguyễn Huy C1 và bà Nguyễn Thị T tại tổ dân phố H, phường C, thành phố Hải Phòng. Khi ly hôn, chị không muốn thay đổi, xáo trộn cuộc sống của con chung nên chị đề nghị giao cháu K cho anh D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, chị sẽ tự giải quyết với anh D.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Vợ chồng chị sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Nguyễn Huy C1 và bà Nguyễn Thị T (bố mẹ đẻ anh D) trình bày: Anh D1 và chị H kết hôn với nhau năm 2015. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình ông bà. Quá trình chung sống anh chị có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị H không chung thủy với anh D1. Đến cuối năm 2019, chị H đi lao động tại Nhật Bản. Trong thời gian chị H lao động tại nước ngoài, anh D1 và chị H vẫn tiếp tục xảy ra mâu thuẫn do việc chị H đi nước ngoài lại cắt liên lạc với anh D1. Ngoài ra, anh chị còn mâu thuẫn về kinh tế, chị H đi lao động chỉ gửi tiền về bên ngoại. Chị H và anh D1 sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Ngày 29/5/2025 anh D1 cũng đi lao động tại Nhật Bản tuy nhiên địa chỉ cụ thể thế nào ông bà không biết, anh D1 cũng không cung cấp. Tòa án đã yêu cầu ông bà cung cấp địa chỉ của anh D1 nhưng ông bà không biết nên không thể cung cấp được cho Tòa án. Các văn bản tố tụng của Tòa án ông bà nhận thay anh D1, ông bà đã thông báo cho anh D1 biết, quan điểm của anh D1 là đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Về con chung: Anh D1 và chị H có 01 con chung là Nguyễn Minh K sinh ngày 13/5/2016. Cháu K ở cùng gia đình ông bà từ khi chị H đi lao động tại nước ngoài. Mọi sinh hoạt, ăn ở và học hành vẫn đảm bảo. Nếu chị H và anh D1 ly hôn, trường hợp anh D1 được nuôi con thì ông bà tiếp tục hỗ trợ anh D1 trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Anh Dũng không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Chị là chị gái của chị H. Chị H và anh D1 kết hôn với nhau năm 2016. Quá trình chung sống, chị H và anh D1 có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D1 mải chơi, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình. Anh Dũng không quan tâm đến gia đình. Năm 2019 chị H đi lao động tại Nhật Bản. Từ đó chị H và anh D1 không quan tâm, liên lạc với nhau nữa.

Về con chung: Chị H và anh D1 có 01 con chung hiện đang ở cùng bố mẹ anh D1. Nay chị H xin ly hôn anh D1, chị H đề nghị giao con cho anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng. Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị H để ổn định cuộc sống.

Tại phiên toà các đương sự đều vắng mặt.

Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của các đương sự.

Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Huy D.

Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 13/5/2016 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh D về việc không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Tạm giao cháu Nguyễn Minh K cho ông Nguyễn Huy C1 và bà Nguyễn Thị T - Là bố, mẹ anh D chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh D lao động tại Nhật Bản.

Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Huy D. Anh D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ dân phố H, phường C, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9- Hải Phòng theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án. Chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh D đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ theo khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Huy D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thị xã C, tỉnh Hải Dương (nay là phường C, thành phố Hải Phòng) vào ngày 12/10/2015 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị H và anh D đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Mặt khác do chị H đi lao động tại Nhật Bản, cuộc sống vợ chồng xa cách nhau, mỗi người ở một nơi nên không có sự đồng cảm, chia sẻ, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến tình cảm vợ chồng mất mát dần. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu cầu của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh D là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về việc nuôi con: Chị H và anh D có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 13/5/2016. Hiện cháu K đang ở cùng bố mẹ anh D là ông Nguyễn Huy C1 và bà Nguyễn Thị T tại tổ dân phố H, phường C, thành phố Hải Phòng. Nay chị H đề nghị giao cháu K cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, anh D cũng có nguyện vọng nuôi con. Cháu K hiện cũng có nguyện vọng được ở với anh D. Xét nguyện vọng trên của chị H, anh D và cháu K là phù hợp nên cần giao cháu K cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện anh D đang lao động tại Nhật Bản, ông C1 và bà T đang hỗ trợ anh D nuôi con, cuộc sống và điều kiện ổn định do vậy cần tạm giao cháu K cho ông C1 và bà T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh D đi lao động tại nước ngoài. Anh D không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Huy D.
  2. Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 13/5/2016 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh D về việc không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Tạm giao cháu Nguyễn Minh K cho ông Nguyễn Huy C1 và bà Nguyễn Thị T - Là bố, mẹ anh D chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh D lao động tại Nhật Bản.
    Chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003682 ngày 13 tháng 10 năm 2025 Chi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 9 - Hải Phòng;
- UBND phường Chu Văn An, TP. Hải Phòng (Để ghi vào sổ hộ tịch);
- Thi hành án dân sự TP. Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Văn Quyết
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HNGĐ- ST ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 01/2026/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Hôn nhân gia đình giữa Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Nguyễn Huy D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger