|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 01/2026/DS-ST Ngày: 08/01/2026 V/v: Kiện đòi tài sản (tiền) |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đinh Lan Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Trung, ông Trần Tuấn Cường.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Bùi Thái Bình - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 01 năm 2026, Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 233/2025/TLST- DS, ngày 09/10/2025, về việc: Kiện đòi tài sản (tiền), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXX-ST ngày 25/11/2025, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1966
Địa chỉ: nhà số G, đường L, Tổ F, phường T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Bị đơn: ông Hoàng Thế V, sinh năm 1974
Địa chỉ: số nhà C, đường L, Tổ F, phường T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Ngô Thị H, sinh năm 1969, (vợ của ông Hoàng Văn Q)
Địa chỉ: nhà số G, đường L, Tổ F, phường T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt và ủy quyền cho ông Q tham gia tố tụng.
+ Bà Bùi Thị Thanh D, sinh năm 1976
Địa chỉ: số nhà C, đường L, Tổ F, phường T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn ông Hoàng Văn Q trình bày:
Ông Hoàng Thế V là hàng xóm quen biết với gia đình ông Q. Vào ngày 14/06/2019 ông V có hỏi vay ông Q số tiền: 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) và ông Q có đồng ý cho ông V vay. Đến ngày 29/12/2020, ông V tiếp tục hỏi ông Q vay số tiền: 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng), ông Q cũng đồng ý cho ông V vay. Ngày 02/04/2022 vợ chồng ông V hỏi ông Q vay thêm với số tiền là: 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng). Ông Q cũng đồng ý cho vay. Tổng 3 lần ông V vay tiền của ông Q như trên là: 1.200.000.000 đồng (một tỷ hai trăm triệu đồng). Vay tiền mặt, không có lãi và ông V đều viết “Giấy vay tiền”. Khi ông Q đòi tiền thì hỏi nhiều lần ông V mới trả được 30.000.000 đồng tiền gốc, còn lại không trả. Do vậy ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông V phải trả cho ông Q số tiền vay gốc: 1.170.000.000 đồng tiền gốc không tính lãi.
Ông Q xuất trình:
- Giấy vay tiền đề ngày 14/6/2019, bản viết tay với nội dung: “Em là...V có vay tiền của anh chị Q - H1 với số tiền là: 400.000.000 đồng...Khi anh chị lấy lại số tiền trên báo trước 10 ngày sẽ hoàn trả anh chị đầy đủ..” ; người vay: ký tên “V - Hoàng Thế V”
- Giấy vay tiền 29/12/2020, viết tay với nội dung: “Tôi V có vay của anh Q số tiền 400.000.000 đồng hẹn 29/12/2021 sẽ hoàn trả số tiền như đã hứa. Người vay: Hoàng Thế V”
- Giấy vay tiền 02/4/2022, viết tay với nội dung: “Tôi là V và vợ là D có vay tiền của anh chị Q - H với số tiền 400.000.000 đồng, lãi 0%, hẹn cuối tháng 12/2022 sẽ trả số tiền trên. Người cho vay: Hoàng Văn Q, người vay: Hoàng Thế V, Bùi Thị Thanh D. Người làm chứng: Nguyễn Bá N, Đào Thu H2”;
Ông Q cũng thừa nhận ông V đã trả 30.000.000 đồng tiền gốc nêu trên là trả thành 3 lần: 11/11/2023 trả 10.000.000 đồng, 19/7/2024 trả 10.000.000 đồng, 21/3/2025 trả: 5.000.000 đồng và đến 31/5/2025 trả 5.000.000 đồng.
2. Tại bản tự khai, quá trình công khai chứng cứ, hòa giải tại Toà án, bị đơn - ông Hoàng Thế V trình bày:
Ngày 29/8/2019, ông V có vay của bà H1 (tên chính là Ngô Thị H) số tiền 400.000.000 đồng, thỏa thuận bằng lời nói lãi 2%, mỗi tháng trả 8.000.000 đồng.
Bắt đầu trả lãi:
- Năm 2019: từ tháng 9/2019 đến tháng 12/2019 là 04 tháng;
- Năm 2020: từ tháng 1 cho đến tháng 12/2020 là 12 tháng;
- Năm 2021: từ tháng 1 đến tháng 4 là 4 tháng;
Tiếp đó 28/01/2022 trả cho anh Q: 20.000.000 đồng tiền lãi. Tổng lãi đã trả là: 180.000.000 đồng. Trả tiền mặt. Từ ngày 11/11/2023 đến ngày 31/5/2025 đã trả 30.000.000 đồng tiền gốc; còn nợ lại là 370.000.000 đồng tiền gốc. Ông V khẳng định chỉ vay 1 lần gốc 400.000.000 đồng và đã trả 30.000.000 đồng gốc . Số tiền còn nợ lại là 370.000.000 đồng tiền gốc.
Khi vay tiền, vợ chồng ông V, bà D trực tiếp giao dịch với bà H1 (H) chứ không phải với ông Q. Ông V xác nhận là nợ chung vợ chồng ông Q, bà H1 (H). Ông Q nói ông V vay: “1.200.000.000 đồng” là không đúng sự thật. Đây là hành vi vu khống tống tiền đối với ông V. Ông V đề nghị Tòa án đưa bà H1 vào tham gia tố tụng.
Do dịch bệnh Covid-19, ông V không làm ăn được, không có tiền trả cho vợ chồng ông Q, bà H1. Mỗi lần trả tiền lãi vợ ông V đều có ghi ghép vào sổ nhưng không có ký nhận của vợ chồng ông Q, bà H1; chỉ có trả tiền gốc 30.000.000 đồng sau này là có ký xác nhận của ông Q, bà H1 (chốt nợ còn 370.000.000 đồng tiền gốc). Hai giấy vay tiền lần sau là do viết lại; lý do viết lại giấy vay tiền là do khi đó chưa trả được nợ gốc, vợ chồng ông V nể ngại nên chấp nhận viết lại giấy vay tiền mới, mà không đòi lại giấy cũ - dẫn đến việc ông Q đòi nợ ông V với số tiền 1.200.000.000 đồng như ngày hôm nay.
Tại phiên tòa: ông V, bà D vẫn giữ nguyên lời trình bày như trên và yêu cầu Tòa án giải quyết đúng sự thật của vụ việc.
3. Ý kiến bà Ngô Thị H (vợ ông Q):
Tại bản khai ngày 28/10/2025 (Bút lục 39) bà H khai như sau: ngày 14/6/2019 ông V có vay của ông Q 400.000.000 đồng, 29/12/2020 vay thêm 400.000.000 đồng; ngày 02/4/2022 có vay thêm 400.000.000 đồng, tổng là 1.200.000.000 đồng. Trong đó bà không biết 2 lần đầu ông V vay tiền chồng bà vì chồng bà không nói, đến lần vay thứ 3 thì bà mới được biết và có mặt, trong lần thứ 3 này vợ chồng bà cho ông V vay 400.000.000 đồng và ông V đã trả được 30.000.000 đồng tiền gốc như ông V khai là đúng. Từ ngày vay, bà H chưa nhận được đồng lãi nào ông V trả cho bà. Bà H xác nhận giấy chốt nợ 31/5/2025 là đúng bà H xác nhận. Nhưng bà H chỉ đứng ra viết, cho vay tiền thay cho chồng bà là ông Hoàng Văn Q, tiền của ông Q. Bà H3 không khai lời nào về việc “cá nhân bà H còn cho ông V vay riêng”. Tiếp đó, bà H có văn bản ủy quyền cho ông Q tham gia tố tụng.
4. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Thanh D:
Năm 2019 ông V có vay tiền của bà H1 (H) với số tiền là 400.000.000 đồng. Bà D đồng ý với trình bày của ông V, do thỏa thuận hai bên ông V và bà H1 có nhờ bà D viết giấy vay tiền; lúc viết xong ông V có điện thoại gọi đến thì ông V bảo bà D ký luôn. Năm 2020, 2022 do thỏa thuận của hai bên viết lại giấy vay nợ của năm 2019, bà D cũng là người viết hộ và bà H1 cũng bảo bà D ký hộ luôn. Tại phiên tòa bà D công nhận là vợ chồng bà vay ông bà Q - H 400.000.000 đồng tiền gốc.
5. Người làm chứng:
- Bà Đào Thị H4 (Đào Thu H2) có ý kiến: bà là em dâu của ông Q và là hàng xóm của ông V. Vào năm 2022, ông Q có gọi bà H2 sang làm chứng về việc giao dịch ông Q cho ông Hoàng Thế V vay tiền. Bà H2 có mặt ở đó và ký làm chứng hai bên đã giao dịch tiền cho nhau bằng tiền mặt 400.000.000 đồng, còn những lần vay khác bà H2 không biết. Tại phiên tòa: bà H2 khai lần ông V vay tiền của ông Q vào năm 2022, bà được ông Q mời sang, bà thấy ông V và bà D tại nhà ông Q, thấy tiền trên mặt bàn, không biết loại tiền gì, không rõ bao nhiêu, thấy giấy vay tiền thì ông Q bảo ký làm chứng thì bà ký, không trực tiếp nhìn thấy ông Q giao tiền cho ông V.
Quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa khi được hỏi về việc đòi nợ và thời hạn trả nợ, ông Q cho biết: Thời hạn giấy vay lần 1 không nêu rõ chỉ ghi: cần thì báo trước 10 ngày, nhưng ông chưa cần tiền nên không đòi; vay lần 2 hẹn 20/12/2021 trả, ông V không trả nhưng ông Q cũng chưa cần tiền nên không đòi; vay lần 3 hẹn: cuối tháng 12/2022 trả, ông V không trả nhưng ông Q cũng chưa cần tiền nên không đòi; đến “đầu năm 2023” ông Q mới đòi tiền để mua đất cho con thì vợ chồng ông V không trả. Dẫn đến việc ông V làm đơn khởi kiện. Ông Q không nhớ được chính xác ngày, tháng nào thì ông đòi nợ ông V, chỉ nhớ được là “đầu năm 2023” Ông Q khẳng định lần 1, lần 2 là ông V vay riêng ông Q, còn lần 3 là vợ chồng ông V vay ông Q, tiền của ông Q (vì vợ cho giữ tiền riêng). Lần 3 thì chắc chắn ông Q có mời hai người làm chứng là bà H2 em dâu ông Q và ông N là bạn ông Q (ông N đã đi làm ăn xa, không đến tham gia được). Tòa án hỏi nhiều lần, ông Q vẫn một mực khẳng định việc ông Q cho vay như thế hoàn toàn là không có lãi. Ông Q đề nghị Tòa án không hòa giải nữa. Ông Q giữ nguyên yêu cầu đòi ông V 1.170.000.000 đồng tiền gốc và lãi theo pháp luật.
Khi được hỏi: với tư cách bà H, ông Q trả lời cho Hội đồng xét xử gia đình ông tổng cộng có bao nhiêu lần cho ông V vay tiền thì ông Q trả lời là: “Chỉ có 3 lần vay tiền theo 3 giấy vay này thôi”. Ngoài ra, ông Q không trả lời và lý giải được các câu hỏi của Hội đồng xét xử.
Ông V và bà D cũng không nhớ được chính xác ngày, tháng nào ông Q đòi nợ và không đưa ra được tài liệu nào chứng minh việc này; do vậy ông V và bà D xác nhận mốc ông Q đưa ra là: “đầu năm 2023” ông Q đòi nợ gốc; do khó khăn nên vợ chồng ông mới trả dần tiền gốc được 30.000.000 đồng như đã trình bày.
5. Những nội dung thống nhất, không thống nhất:
Nội dung khai thống nhất: các bên đều thừa nhận ông V có vay tiền của gia đình ông Q theo giấy vay lần 1. Số tiền gốc 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu) đồng. Hai bên thừa nhận ông V đã trả cho ông Q 30.000.000 đồng (ba mươi triệu) đồng tiền nợ gốc là đúng. Thừa nhận giấy ghi chi tiết việc trả 30.000.000 đồng và chốt còn: 370.000.000 đồng như ông V nộp là đúng. Hai bên đều xác định thời điểm ông V và bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ là: “đầu năm 2023”.
Nội dung không thống nhất:
- Nguyên đơn - ông Q cho rằng ông V vay tiền gốc của ông Q 3 lần, mỗi lần 400.000.000 đồng, tổng là 1.200.000.000 đồng tiền gốc, không có lãi; đã trả 30.000.000 đồng tiền gốc, còn lại 1.170.000.000 đồng tiền gốc; ông Q yêu cầu ông V và bà D phải trả đủ số tiền gốc này cho ông Q.
- Bị đơn ông V khẳng định: chỉ vay 400.000.000 đồng, trực tiếp giao dịch với bà H3 và bà H3 là người đưa tiền cho ông V chứ không giao dịch với ông Q, không cầm số tiền 1.200.000.000 đồng nào từ ông Q. Hai giấy vay tiền sau là viết lại theo yêu cầu của bên bà H3.
6. Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các bên đương sự chấp hành tham gia phiên tòa đầy đủ. Vụ án giải quyết đúng thẩm quyền luật định.
Về nội dung vụ án: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tranh tụng công khai tại phiên tòa, xác định được số tiền vay còn 370.000.000 đồng là đúng. Lãi: ông Q một mực khẳng định cho vay “không có lãi”, ông V cho rằng có thỏa thuận bằng lời nói “lãi 2%” nhưng không có bằng chứng pháp lý chứng minh được là “vay có lãi” - do vậy đây cũng không thuộc trường hợp “cho vay có lãi nhưng có tranh chấp về mức lãi suất” nên xác định việc cho vay là “không có lãi”. Không có căn cứ chứng minh việc ông Q cho ông V vay 1.200.000.000 đồng tiền gốc. Do tại phiên tòa các bên đương sự đều khai thống nhất ông Q đòi nợ ông V từ “đầu năm 2023” nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn buộc ông bà V - D1 liên đới nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông Q số tiền 370.000.000 đồng tiền gốc, kèm theo lãi chậm trả, chậm thi hành án theo pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí theo pháp luật. Căn cứ theo các Điều 117, 146, 385, 463, 466 - Bộ luật dân sự.
(Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát được lưu trong hồ sơ vụ án)
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định Điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự và quy định tương ứng tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí để giải quyết;
Quyền kháng cáo: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ vào các chứng cứ các tài liệu mà đương sự cung cấp; qua thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền và thời hiệu giải quyết: ông Hoàng Thế V có địa chỉ cư trú tại: tổ F - phường T, tỉnh Phú Thọ. Nguyên đơn ông Hoàng Văn Q là người có đơn khởi kiện đòi tiền theo “giấy vay tiền” đối với ông V. Đây là quan hệ pháp luật: tranh chấp về giao dịch dân sự, cụ thể là kiện đòi tiền cho vay; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ, theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và quy định Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bảo đảm quy định về thời hiệu giải quyết.
Các bên đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc ủy quyền tham gia tố tụng - việc xét xử đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Q xuất trình các giấy vay tiền nêu trên nhưng tại phiên tòa không trình bày được chi tiết nội dung, diễn biến của việc vay tiền, không trình bày được thời gian vay tiền. Ông Q trình bày: khi làm việc tại Tòa án, bên ông V, bà D khai “Giấy vay tiền” do bà D viết thì ông Q mới biết là bà D viết. Lời khai của ông Q mâu thuẫn ở chỗ: ông V sang vay tiền, một mình ông V vay, khi vay có làm “Giấy vay tiền” nhưng thực tế “Giấy vay tiền” ông Q xuất trình đều là chữ viết bà D; thậm chí trong giấy vay tiền 2019 bà D còn ký hộ ông V (ông V cũng thừa nhận chữ ông V xấu, lúc ấy ông lại có điện thoại gọi đến nên nhất trí cho vợ ký hộ và bà H1 cũng đồng ý). Hội đồng xét xử hỏi thì ông Q lại khai rằng: các giấy vay tiền ông V viết rồi đưa lại. Như vậy lời khai ông Q là mâu thuẫn, bất nhất, không thể hiện được sự thật khách quan. Ông Q thừa nhận giấy ghi trả: 30.000.000 đồng là đúng. Nhưng khi Đại diện Viện kiểm sát hỏi thì ông Q lại chỉ thừa nhận chữ ký nhưng cho rằng: “không hiểu vì sao bên cạnh chữ ký ông Q lại có con số 380.000.000 đồng”. Các câu hỏi tại phiên tòa ông Q trả lời không đúng vào nội dung câu hỏi. Không giải thích được logic các vấn đề được hỏi. Bà H2 cũng không giải thích được các câu hỏi của Hội đồng xét xử: không biết thỏa thuận vay tiền là bao nhiêu, không thấy ông bà V - D viết giấy, không đọc, chỉ nghe nói nhưng lại ký làm chứng, bà nói thấy tiền trên bàn thì ký, không thấy đếm tiền, không biết cụ thể thỏa thuận thế nào, Q bảo ký làm chứng thì ký thôi.
Với tư cách đại diện cho bà H1, ông Q cũng khai gia đình ông Q chỉ cho ông bà V - D vay “tổng 1.200.000.000 đồng”, ngoài ra không còn khoản cho vay nào khác. Trước đó, bà H5: vợ ông Q còn bản khai: tôi là người viết giấy và cho vay hộ chồng, không có chỗ nào bà H1 khai là “cho vay khoản riêng” nào khác.
Ông Q không giải thích được tại sao mỗi lần cho vay luôn là con số: “400.000.000 đồng”, không giải thích được lý do tại sao lần vay cuối ông Q không cộng dồn 3 lần cho ông V vay tiền thành 1.200.000.000 đồng tiền gốc; không đưa ra được căn cứ, lý do của việc ông cho vay từ năm 2019 mà đến đầu 2023 mới đòi tiền? Và lý do tại sao khi cho vay lần 1 chưa trả lại tiếp cho vay lần 2, lần 3. Số tiền gốc đã trả (30.000.000 đồng) với các mốc ngày trả, số tiền trả mỗi lần hai bên đều khai và thừa nhận là đúng với giấy chốt nợ bị đơn xuất trình (có đối chiếu bản gốc).
Chứng cứ và lập luận nêu trên thể hiện: số tiền ông Q cho ông V vay: “400.000.000 đồng” là sự thật khách quan và là “vợ chồng ông V” vay của “vợ chồng ông Q”. Hai giấy vay tiền ngày 29/12/2020 và ngày 02/4/2022 là “viết lại” là đúng với thực tế. Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ là: “đầu năm 2023” - theo Điều 146 - Bộ luật dân sự được tính từ “01/01/2023”. Khoản gốc đã trả: 30.000.000 đồng là đúng sự thật khách quan.
Bà H2 và ông N làm chứng đều là người nhà, bạn thân quen, cùng với lời khai của bà H2 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy những người làm chứng cho ông Q không thể hiện sự khách quan.
Giấy trả nợ gốc 30.000.000 đồng và chốt dư nợ bị đơn nộp: có bản gốc, được các bên thừa nhận là: “Có giấy này”. Đây là căn cứ chứng cứ chấp nhận được.
Lập luận và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát Khu vực 12 là có căn cứ pháp luật; do không có tài liệu chứng cứ minh việc “cho vay có lãi” trong khi ông Q một mực khẳng định “cho vay không có lãi”. Với giấy vay tiền ngày 14/9/2019 được xác định là có căn cứ pháp lý thì: sau 10 ngày - ông Q khẳng định nhiều lần là không đòi nợ vì chưa cần tiền nên được hiểu là ông Q đồng ý cho ông bà V - Dưng khất nợ đến “đầu năm 2023” mới đòi nợ; mốc này phù hợp với mốc thời điểm “năm” lần đầu tiên ông V trả nợ gốc 10.000.000 đồng (là tháng 11/2023); ông bà V - D1 cũng đồng ý xác nhận => như vậy xác định thời điểm ông V vi phạm nghĩa vụ trả nợ là: 01/01/2023 (theo điều 146 của Bộ luật dân sự). Theo đó, ngoài tiền dư nợ gốc 370.000.000 đồng thì ông V và bà D phải còn phải liên đới chịu lãi chậm trả từ ngày 01/01/2023; số tiền gốc đã trả nợ được trừ đuổi để tính lãi theo từng lần trả gốc (với mức 10%/năm);
Cần chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn (giấy vay tiền ngày 14/6/2019) cụ thể như sau:
Số tiền vay gốc: 400.000.000 đồng
- Từ ngày “01/01/2023” đến ngày 10/11/2023
400.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 10 tháng 09 ngày = 34.319.600 đồng
- Ngày 11/11/2023 ông V trả 10.000.000 đồng tiền gốc, còn: 390.000.000 đồng tiền gốc:
Từ 11/11/2023 đến 18/7/2024 là: 8 tháng 7 ngày
390.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 8 tháng 7 ngày = 26.747.630 đồng
- Ngày 19/7/2024 ông V trả 10.000.000 đồng tiền gốc, còn 380.000.000 đồng tiền gốc:
Từ 19/7/2024 đến 20/3/2025 là 8 tháng 1 ngày
380.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 8 tháng 1 ngày = 25.428.713 đồng
- Ngày 21/3/2025 ông V trả 5.000.000 đồng tiền gốc, còn 375.000.000 đồng tiền gốc:
Từ 21/3/2025 đến 30/5/2025 là 2 tháng 9 ngày
375.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 2 tháng 9 ngày = 7.184.625 đồng
- Ngày 31/5/2025 ông V trả 5.000.000 đồng tiền gốc, còn 370.000.000 đồng tiền gốc:
Từ 31/5/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm 08/01/2026 là 7 tháng 8 ngày
370.000.000 đồng x 0,833%/tháng x 7 tháng 8 ngày = 22.396.593 đồng
Tổng lãi: 116.077.161 đồng
Cả gốc và lãi:
370.000.000 đồng (gốc) + 116.077.161 đồng (lãi) = 486.077.161 đồng
Mặc dù trong hồ sơ có tài liệu, chứng cứ thể hiện là vay chung vợ chồng ông Q nhưng do bà H3 cũng nhất trí cho rằng đó là vay ông Q nên cần tuyên người đứng ra nhận trả nợ trực tiếp là: ông Hoàng Văn Q.
Các nội dung đánh giá nêu trên phù hợp với quy định Điều 117, Điều 357, 385, Khoản 1, 4 Điều 466 - Bộ luật dân sự.
Phần khởi kiện ông Q không được Tòa án chấp nhận là: 683.922.839 đồng.
[3] Về án phí:
Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định: theo pháp luật. Khoản 1 Điều 147 - Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 4 Điều 26 - Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án (Tiết c, Điểm 1 Mục II - Danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết này: 20.000.000 đồng + 4% của phần vượt quá 400.000.000 đồng).
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên;
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 39 - Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Khoản 1, Điều 147; Điều 264, 266, 271 và Điều 273
Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Điều 117, Khoản 3 Điều 146; Điều 357, 385, Khoản 1, 4 Điều 466 - Bộ luật dân sự 2015;
Khoản 4 Điều 26 - Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn. Buộc vợ chồng ông Hoàng Thế V và bà Bùi Thị Thanh D phải liên đới nghĩa vụ trả nợ cho ông Hoàng Văn Q: 486.077.161 đồng (trong đó: 370.000.000 đồng tiền gốc và 116.077.161 đồng tiền lãi).
Số tiền này, kể từ ngày Bản án có hiệu lực và người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp, nếu ông V và bà D không thanh toán thì còn phải tiếp tục lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 điều 468 - Bộ luật Dân sự đối với số tiền chưa thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ.
2. Về án phí:
- Ông Q phải chịu 31.356.913 đồng (ba mươi mốt triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm mười ba đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận, được khấu trừ vào số tiền 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng) tạm ứng án phí ông Q đã nộp theo biên lai số: 0003054 ngày 08/10/2025 tại Chi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; ông Q còn phải nộp thêm 7.356.913 đồng (Bảy triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm mười ba đồng).
- Ông V và bà D phải liên đới chịu 23.443.086 đồng (hai mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn không trăm tám mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử theo trình tự phúc thẩm (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo tương tự, về nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ - VKSND Khu vực 12; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Lan Hương |
Bản án số 01/2026/DS-ST ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - tỉnh Phú Thọ về kiện đòi tài sản (tiền)
- Số bản án: 01/2026/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản (tiền)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 12 - tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản (tiền)
