Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10- AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2026/DS-ST

Ngày: 07-01-2026

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Liêu Văn Lộc

Ông Phạm Thạch Út

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10- An Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 –An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2025/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 364/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 295/QĐST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm:1950.

Nơi cư trú: Tổ B, ấp V, xã V, tỉnh An Giang

Bà N ủy quyền cho ông Phạm Thái B, sinh năm: 1971. Địa chỉ Ấp H, xã A, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Theo văn bản ủy quyền lập ngày 3/11/2025.

-Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1976 (vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm; 1976 (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú: Tổ B, ấp V, xã V, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 29/9/2025, đơn khởi kiện bổ sung ngày 23/10/2025 của bà Trần Thị N, văn bản ngày 5/01/2026 của đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Thái B trình bày: Nguyên vào ngày 20/3/2018 do thiếu vốn mua máy Kober và xe chở đất, nên vợ chồng bà M, ông T có vay của tôi số vàng là 10 chỉ (loại vàng 24 kra 9999), thời hạn vay là 1 năm, lãi suất 2%/tháng (tính giá vàng khoảng 5.000.000đ/chỉ), mỗi tháng vợ chồng ông T trả lãi 1.000.000 đồng; sau 01 năm vợ chồng bà không trả vốn mà đến năn nĩ tôi xin được trả lãi, khi nào bán được đất sẽ trả vốn luôn. Như vậy họ trả lãi cho tôi đến tháng 3/2021 thì ngưng trã lãi, đến tháng tôi lại lấy tiền lãi thì họ hẹn; tức quá tôi đòi lấy lại vốn luôn thì đến tháng 12/2021 họ trả cho tôi được 02 chỉ vàng, còn lại họ hứa 6 tháng sau bán đất trả vốn và lãi luôn, nhưng sau đó họ bán đất tôi không hay biết.

Đến ngày 10/6/2022 Ban ấp mời hòa giải, tại đây bà M hứa mỗi tháng trả 2.000.000đồng cho đến khi nào hết nợ, nhưng không thực hiện, chỉ tiếp tục trả lãi suất bắt đầu lại từ tháng 7/2022, mỗi tháng trả 800.000đ, việc trả lãi này đến tháng 3/2023 thì vợ chồng trả vốn được 1.500.000đ (tương đương 3 phân vàng ); còn lại 7,7 chỉ vàng từ tháng 4/2023 đến nay vợ chồng không trả vốn, không trả lãi luôn.

Theo đơn khởi kiện bà Trần Thị N yêu cầu:

  1. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho tôi số vàng là 7,7 chỉ vàng 24 kra loại 9999. Giá vàng tại thời điểm tranh chấp ước tính khoảng 11.800.000 đồng/1 chỉ x7,7 chỉ quy ra tiền là : 90.860.000 đồng
  2. Trả lãi suất 20%/năm trên tổng số vàng 7,7 chỉ (tương ứng 90.860.000 đồng) từ tháng 4/2023 đến khi Tòa án xét xử và thi hành án xong.

Tuy nhiên tại văn bản ngày 5/1/2026 đại diện ủy quyền của nguyên đơn có văn bản trình bày ý kiến của người đại diện nguyên đơn và yêu cầu xét xử vắng mặt: Rút yêu cầu bị đơn trả lãi suất cho nguyên đơn, vẫn giữ nguyên yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số vàng là 7,7 chỉ vàng 24kra (bảy chỉ bảy phân) theo biên nhận ngày 4/11/2018 và biên bản hòa giải ngày 10/6/2022 của Ban ấp V, xã V (nay là xã V) tỉnh An Giang.

-Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải.

-Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Khu vực 10- An Giang phát biểu ý kiến:

  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật.
  2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ Điều 147, 227, 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015Điều 463,465,466,468 Bộ Luật Dân sự năm 2015; điểm đ, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị N 7,7 chỉ vàng 24kra.

-Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1]Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng vay. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại tổ B, ấp V, xã V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10- An Giang theo quy định tại các Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân Khu vực 10 - An Giang tống đạt, niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M theo quy định pháp luật.

[1.3] Theo đơn khởi kiện bà Trần Thị N yêu cầu: Ông Nguyễn Văn T bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số vàng là 7,7 chỉ vàng 24 kra loại 9999 và trả lãi suất 20%/năm trên tổng số vàng 7,7 chỉ từ tháng 4/2023 đến khi Tòa án xét xử và thi hành án xong. Tuy nhiên tại văn bản ngày 5/1/2026 đại diện ủy quyền của nguyên đơn có văn bản trình bày ý kiến của người đại diện nguyên đơn và yêu cầu xét xử vắng mặt: Rút yêu cầu bị đơn trả lãi suất cho nguyên đơn. Xét thấy, đối với việc rút lại yêu cầu phần lãi suất của nguyên đơn là không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận là phù hợp.

2]Về nội dung vụ án: Mối quan hệ hợp đồng vay tài sản giữa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M trên thực tế là có xảy ra, trên cơ sở tờ biên nhận ngày 4/11/2018. Theo đó ông T, bà M ngoài mượn tiền 40 triệu đồng (đã trả) còn mượn thêm 01 cây vàng 24kra. Trong quá trình mượn vàng, ông T, bà M hứa mỗi tháng vợ chồng ông T trả lãi 1.000.000 đồng; sau 01 năm vợ chồng ông T không trả vốn mà đến năn nĩ xin được trả lãi và trả lãi cho đến tháng 3/2021 thì ngưng trả lãi, mãi đến tháng 12/2021 ông T, bà M mới trả cho bà N được 02 chỉ vàng. Đến ngày 10/6/2022 Ban ấp mời hòa giải, tại đây bà M hứa mỗi tháng trả 2.000.000đồng cho đến khi nào hết nợ, nhưng không thực hiện, chỉ tiếp tục trả lãi suất bắt đầu lại từ tháng 7/2022, mỗi tháng trả 800.000đ, việc trả lãi này đến tháng 3/2023 thì vợ chồng trả vốn được 1.500.000đ (tương đương 3 phân vàng ); còn lại 7,7 chỉ vàng từ tháng 4/2023 đến nay vợ chồng không trả vốn, không trả lãi luôn. Ngoài ra theo biên bản xác minh các thành viên theo biên bản hòa giải ngày 10/6/2022 gồm ông Nguyễn Văn K, ông Nguyễn Văn D, bà Bùi Thị Ngọc H, ông Lê Trung N1 đều xác nhận ngày 10/6/2022 tại văn phòng ấp có tổ chức hòa giải cho bà Trần Thị N và bà Nguyễn Thị M liên quan đến việc mượn nợ (vàng) theo nội dung biên bản đã ghi nhận. Từ cơ sở trên xác nhận việc ông T, bà M có nợ vàng của bà N là có xãy ra. Xét thấy, trong mối quan hệ vay tài sản ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M là người có lỗi, vì không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là trả vốn khi đến hạn. Việc vi phạm này đã ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N.

Còn bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn T trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi tòa án thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm thì ông bà M và ông T không đến tòa tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa không cung cấp được lời khai, song căn cứ vào biên nhận ngày 4/11/2018 ông T có ký tên trong tờ biên nhận, còn tại biên bản hòa giải tại Văn phòng ấp V, bà M có thừa nhận việc vay vàng của bà N. Thời điểm vay tiền, vàng ông T và bà M còn là vợ chồng hợp pháp (theo bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 28/2/2024 thì Tòa án giải quyết vụ kiện ly hôn giữa bà M và ông T). Căn cứ vào quy định tại điều 27, Luật hôn nhân gia đình năm 2014“Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch hợp pháp do một hoặc hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu trong gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị N buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Trần Thị N là hoàn toàn phù hợp.

[3]Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm đ, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14:

-Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

-Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận .

[5]Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 235, 244, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463,466,468 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị N 7.7 chỉ vàng 24k (Giá vàng tại thời điểm tranh chấp ước tính khoảng 11.800.000 đồng/1 chỉ x7,7 chỉ quy ra tiền là : 90.860.000 đồng).
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Đình chỉ yêu cầu của bà Trần Thị N yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M trả số tiền lãi suất 20%/năm trên tổng số vàng 7,7 chỉ từ tháng 4/2023 đến khi Tòa án xét xử và thi hành án xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • +Bà Trần Thị N được miễn tiền tạm ứng án phí (do bà Trần Thị N là người cao tuổi)
    • Bị đơn Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M phải chịu số tiền 4.543.000 đồng (bốn triệu năm trăm bốn mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về kháng cáo: Bà Trần Thị N, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
  7. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

*Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND Khu vực 10-An Giang;
  • - Phòng THA.DS Khu vực 10- An Giang;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/DS-ST ngày 07/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 01/2026/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Nên. 2.Buộc ông Nguyễn Văn Tánh và bà Nguyễn Thị Mai phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Nên 7.7 chỉ vàng 24k (Giá vàng tại thời điểm tranh chấp ước tính khoảng 11.800.000 đồng/1 chỉ x7,7 chỉ quy ra tiền là : 90.860.000 đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger