|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG Bản án số: 01/2026/DS-ST Ngày: 06-01-2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Hoàng Phúc.
- Ông Trần Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực A - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2025/TLST-DS, ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 105/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
- Địa chỉ: Số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T; chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng cá nhân.
- Người được ủy quyền lại: Ông Dương Đức T1; chức vụ: Nhân viên xử lý nợ khách hàng cá nhân– Có mặt.
- Địa chỉ: Số A T, phường P, tỉnh Lâm Đồng.
- 2. Bị đơn: Ông Phạm Mạnh T2, sinh năm 1991 – Vắng mặt.
- Địa chỉ: Số C, đường số D, thôn V, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/5/2025 cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo, bản khai, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Dương Đức T1 trình bày: Ngày 13/7/2023 ông Phạm Mạnh T2 vay của Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 157.500.000 đồng, với thời hạn là 30 tháng, lãi suất thỏa thuận là 32%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn. Phương thức trả nợ như sau: Trả hàng tháng, vừa trả nợ gốc theo lịch trình do Ngân hàng quy định vừa nợ lãi phát sinh trong kỳ. Sau khi vay, ông T2 có trả cho Ngân hàng số nợ gốc tính đến ngày 12/3/2024 là 26.268.640 đồng và nợ lãi là 26.613.242 đồng. Sau đó ông T2 ngưng trả lãi và gốc cho Ngân hàng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Phần B của Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần hoặc vay theo hạn mức, thì bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bất kỳ của một kỳ trả nợ gốc hoặc kỳ trả lãi nào cũng bị coi là vi phạm nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng có quyền thu hồi ngay toàn bộ dư nợ còn lại mà không cần chờ đến khi kết thúc thời hạn cho vay theo hợp đồng. Theo quy định điểm c khoản 2 Điều 6 Phần B của Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần hoặc vay theo hạn mức, thì trong trường hợp Ngân hàng yêu cầu bên vay phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc trước hạn, nếu bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ theo yêu cầu của Ngân hàng thì toàn bộ dư nợ gốc phải chịu lãi suất quá hạn. Sau khi ông T2 ngưng trả nợ theo quy định cho Ngân hàng, thì Ngân hàng đã yêu cầu ông T2 trả nợ gốc, nợ lãi, nhưng ông T2 không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên số nợ gốc của ông T2 sẽ chuyển thành quá hạn từ ngày 13/3/2024 cho đến nay.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông T2 phải thanh toán cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi của khoản vay nêu trên, gồm tiền gốc 131.231.360 đồng và tiền lãi tính đến nay là 118.004.208 đồng (nợ lãi trong hạn 3.253.117 đồng, lãi quá hạn 114.751.091 đồng)
Chứng cứ do nguyên đơn đưa ra là 01 Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Mạnh T2 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ về việc thụ lý vụ án, thông báo đến tham gia phiên họp kiểm tra về giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra về giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông T2 không tham gia cũng như không có văn bản trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn ông Phạm Mạnh T2 không có lý do, dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử có đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, nhưng do hồ sơ vụ án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Viện kiểm sát có văn bản từ chối tham gia phiên tòa.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, áp dụng pháp luật để giải quyết quan hệ tranh chấp: Căn cứ theo giao dịch được các bên xác lập, thực hiện vào năm 2023 nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Tổ chức các tín dụng năm 2017, để giải quyết là phù hợp.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử, thì ngày 13/7/2023 ông Phạm Mạnh T2 vay của Ngân hàng số tiền 157.500.000 đồng; thời hạn vay là 30 tháng, lãi suất trong hạn là 32%/năm, lãi quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn (48%/năm); phương thức trả theo từng kỳ; mỗi tháng trả nợ gốc theo thông báo của Ngân hàng gửi trước cho khách hàng và tiền lãi phát sinh theo quy định. Theo chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, thì sau khi vay ông T2 chỉ thực hiện trả 26.268.640 đồng tiền gốc và lãi phát sinh đến ngày 12/3/2024 là 26.613.246 đồng, sau đó thì không trả nữa. Căn cứ thỏa thuận giữa các bên và các quy định tại các Điều 3, 4, 6 của Phần B - Bản điều kiện giao dịch chung về vay từng lần hoặc vay theo hạn mức, thì ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng được khởi kiện để thu hồi toàn bộ số nợ gốc còn lại và ông T2 phải chịu lãi suất quá hạn trên toàn bộ số nợ gốc kể từ ngày 13/3/2024 cho đến nay. Nay Ngân hàng yêu cầu ông T2 phải trả nợ gốc còn lại 131.231.360 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn tính đến ngày 06/01/2026 là 118.004.208 đồng, phù hợp với Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 94, 95 Luật Tổ chức các tín dụng năm 2017; phù hợp với đoạn 10 trong phần nhận định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 689/QĐ- CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể: “kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[5] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 96, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, 463, 466, Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 689/QĐ- CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Phạm Mạnh T2 trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền là 249.224.601 đồng; trong đó nợ gốc 131.220.393 đồng, tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm (06/01/2026) là 118.004.208 đồng.
Ông Phạm Mạnh T2 còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn 48%/năm trên số nợ gốc còn lại 131.220.393 đồng, từ ngày kế tiếp ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/01/2026) cho đến khi trả xong số nợ gốc cho gân hàng TMCP Việt Nam V.
- Về án phí: Ông Phạm Mạnh T2 phải chịu 12.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP V 4.818.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005577 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người đại diện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án 06/01/2026; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thái |
Bản án số 01/2026/DS-ST ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2026/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Tuấn vay tiền của ngân hàng đến thời hạn không trả, nên ngân hàng khởi kiện. HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện
