|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2026/DS-PT Ngày: 06-01-2026 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước.
Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn;
Bà Từ Thị Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 72/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 11 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 861/2025/TB-TA ngày 05/12/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 364/2025/QĐ-DS ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Hoàng Thị G, sinh năm 1951; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Bị đơn: ông Trần Xuân H, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị - Ông Trần Xuân H có mặt, bà Trần Thị H1 vắng mặt (bà H1 uỷ quyền cho ông H1 tại văn bản uỷ quyền ngày 07 tháng 8 năm 2025).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Trần Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- - Anh Trần Văn B1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- - Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của chị Trần Thị L, anh Trần Văn B1, anh Trần Văn Đ: Ông Trần Thanh B, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị - Có mặt;
- - Bà Trần Thị L1; địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị L1: Ông Trần Đức Ủ, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- - Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Trần Xuân H, bà Trần Thị H1 là bị đơn trong vụ án.
Đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị G: Ông Trần Thanh B, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị (Văn bản uỷ quyền 26 tháng 12 năm 2025 của bà Hoàng Thị G) - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 18/02/2025, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên toà, bà Hoàng Thị G và đại diện theo ủy quyền nguyên đơn ông Trần Thanh B trình bày:
Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp, năm 1999 vợ chồng bà Hoàng Thị G được Ban Quản lý dự án giao đất trồng thông theo dự án C V với diện tích khoảng 21.000 m2 tại Lô 2b, khoảnh 4, tiểu khu A, loại rừng 1B.
Năm 2001, ông Trần Văn N được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 653494, số vào sổ cấp GCN: 106/QSDĐ/470/QĐ - UB 5-9-1998, ngày 14/3/2001, số thửa 2b, phần ghi thêm khoảnh 4, tiểu khu A diện tích 21.000 m² mang tên ông Trần Văn N (chồng bà G).
Năm 2007, ông Trần Văn N có đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do cấp đổi là do sai diện tích, số thửa, số tờ bản đồ, sai họ, sai tên, sai chữ lót, sai địa chỉ thửa đất. Ngày 25/12/2008, gia đình ông N được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO536458, số vào sổ cấp GCN: H00155, đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10, tại thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, diện tích 20.945 m² mang tên hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G. Vợ chồng bà G sử dụng ổn định từ đó đến nay. Quá trình sử dụng đất đến năm 2018 thì phát hiện vợ chồng ông Trần Xuân H, bà Trần Thị H1 đã trồng cây bạch đàn trên đất của gia đình bà G về phía Bắc diện tích khoảng 10.000 m². Gia đình bà nhiều lần yêu cầu gia đình ông Trần Xuân H trả lại đất cho gia đình nhưng ông H vẫn không trả, Ủy ban nhân dân xã L hòa giải nhưng vẫn không có kết quả.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà G yêu cầu Toà án buộc vợ chồng ông Trần Xuân H, bà Trần Thị H1 trả lại phần đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10, tại thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị) cho gia đình bà G với diện tích 15.866,04 m² theo kết quả đo đạc của Hội đồng thẩm định, tại đơn khởi kiện xác định diện tích lấn chiếm là khoảng 10.000 m² chỉ là áng chừng không chính xác, nay bà G yêu cầu theo diện tích của Hội đồng thẩm định. Đối với cây trồng trên đất lấn chiếm, do cây chưa đến tuổi thu hoạch nên bà G để ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 tiếp tục quản lý, sử dụng. Đến ngày 31/10/2027 vợ chồng ông Trần Xuân H sẽ tự thu hoạch toàn bộ số cầy đã trồng trên diện tích lấn chiếm để trả lại diện tích đất cho gia đình bà G.
- Tại bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa so thẩm bị đơn ông Trần Xuân H trình bày:
Năm 1999, gia đình ông H được Ban Quản lý dự án giao đất trồng thông theo dự án C V với diện tích khoảng 2.4ha tại Lô 2a, khoảnh 4, tiểu khu A, loại rừng 1B.
Năm 2001, ông Trần Xuân H được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 653495, số vào sổ cấp GCN: 105/QSDĐ/472/QĐ – UB 5-9-1998, ngày 14/3/2001, sổ thửa 2a, phần ghi thêm khoảnh 4, tiểu khu A diện tích 24.000 m² mang tên ông Trần Xuân H.
Năm 2007 ông Trần Xuân H có đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do cấp đổi là do sai diện tích, số thửa, số tờ bản đồ, sai họ, sai tên, sai chữ lót, sai địa chỉ thửa đất. Ngày 25/12/2008 gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H00166, đối với thửa đất số 239, tờ bản đồ số 10, tại thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị), diện tích 40.434 m² mang tên ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1. Tại thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông là người trực tiếp đi dẫn đạc ranh giới thửa đất của mình. Vợ chồng ông sử dụng đất ổn định từ năm 1999 đến nay. Vợ chồng ông sử dụng đúng hiện trạng đã được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không lấn chiếm đất của bà G, quá trình sử dụng ông đã đào hào xung quanh để làm ranh giới giữa các hộ liền kề.
Về quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G là trái pháp luật: Thời điểm cấp Giấy CNQDSDĐ cho ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G, ông đang là người trực tiếp sử dụng đất. Tuy nhiên, các cơ quan không thu hồi đất của ông mà lại cấp luôn cho gia đình ông N, bà G.
Ông H1 cho rằng hiện ông Trần Đức Ủ đang sử dụng trồng cây trên đất của bà G nên đề nghị ông Trần Đức Ủ phải trả lại phần diện tích đất cho bà G. Do vậy, việc khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái quy định pháp luật. Ông H1 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu của bị đơn để hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G và đề nghị ông Trần Đức Ủ phải trả lại phần diện tích đất cho bà G.
Đối với cây trồng trên đất: Trường hợp Tòa án xác định ông lấn chiếm diện tích đất của bà G thì ông nhất trí như ý kiến đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông tiếp tục quản lý số cây đã trồng do chưa đến tuổi thu hoạch, đến ngày 31/10/2027 ông sẽ tự thu hoạch toàn bộ số cây trên diện tích lấn chiếm để trả lại diện tích đất cho gia đình bà G.
- Tại bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức Ủ trình bày:
Năm 2008, bà Trần Thị L1 được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 556585, số vào sổ cấp GCN: H00282, ngày 25/12/2008, đối với thửa đất số 245, tờ bản đồ số 10, tại thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn D, xã T, tỉnh Quảng Trị), diện tích 21.240,0 m², để trồng cây theo dự án V. Sau khi được cấp đất, bà L1 sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Hiện nay trên diện tích đất của bà L1, bà G trồng một số cây keo, hai gia đình tự thỏa thuận giải quyết, không xảy ra tranh chấp gì nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Đại diện UBND xã T, tỉnh Quảng Trị trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO536458, số vào sổ cấp GCN: H00155, ngày 25/12/2008, đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10, tại thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị) diện tích 20.945 m² mang tên ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G là phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai được quy định tại Điều 13, 31 và Điều 70 Luật đất đai Năm 2003; khoản 2 Điều 123 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ Về thi hành luật đất đai.
Bản án sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của TAND khu vực 3 - Quảng Trị quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 158, 164, 165, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 4 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ/HĐTP của Hội đồng thẩm phán; Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; các Điều 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai 2013; Điều 163, 164, 166, 189, 190, 274, 275, 276, 579, 580 của Bộ luật Dân sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị G về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
- Buộc ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 trả lại toàn bộ diện tích đất đã chiếm là 15.866,04m² tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10 tại Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị) cho bà Hoàng Thị G và các đồng thừa kế của ông Trần Văn N là chị Trần Thị L, anh Trần Văn B1 và anh Trần Văn Đ (theo sơ đồ là phần gạch chéo, sơ đồ là phần không tách rời bản án).
Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO536450, ngày 25/12/2008 do UBND huyện Q (cũ) cấp cho hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G tại thửa 262, tờ bản đồ 10 xã Q (nay là xã T) và yêu cầu ông Trần Đức Ủ phải trả lại diện tích đất cho bà Hoàng Thị G.
- Về cây trên đất: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Do cây chưa đến tuổi thu hoạch nên giao cho ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ số cây tràm do vợ chồng ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 đã trồng trên diện tích lấn chiếm, đến ngày 31/10/2027 ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 sẽ tự thu hoạch toàn bộ số cây trên và trả lại diện tích đất cho gia đình bà G.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/10/2025, bị đơn ông Trần Xuân H kháng cáo với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của TAND khu vực 3 - Quảng Trị theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Hoàng Thị G cho đúng với thực tế khách quan mà bị đơn đã sử dụng đất suốt 28 năm qua.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Xuân H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Quảng Trị.
- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của kháng cáo: Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án ngày 17/9/2025 thì ngày 01/10/2025 bị đơn kháng cáo và nộp đơn đề nghị miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm kèm theo tài liệu, chứng cứ. Như vậy, kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị thụ lý để giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với vụ án.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Bà Hoàng Thị G khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bị đơn ông Trần Xuân H, bà Trần Thị H1 có nghĩa vụ trả lại diện tích đất đã lấn chiếm; quá trình giải quyết vụ án ông Trần Xuân H, bà Trần Thị H1 yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà G. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L1 và đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị L1; UBND xã T, tỉnh Quảng Trị đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Xuân H, bà Trần Thị H1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Xem xét về nguồn gốc quyền sử dụng đất đang tranh chấp:
Năm 1998, gia đình bà G và gia đình ông ông H1 đều được Ban Quản lý dự án giao đất trồng thông theo dự án C V, cụ thể gia đình bà G được giao với diện tích khoảng 21.000 m² tại Lô 2b, khoảnh 4, tiểu khu A, loại rừng 1B; gia đình ông H1 được giao với diện tích khoảng 2.4ha tại Lô 2a, khoảnh 4, tiểu khu A, loại rừng 1B.
Năm 2001, ông Trần Văn N (chồng bà G) được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 653494, số vào sổ cấp GCN: 106/QSDĐ/470/QĐ - UB 5-9-1998, ngày 14/3/2001, số thửa 2b, phần ghi thêm khoảnh 4, tiểu khu A diện tích 21.000 m² mang tên ông Trần Văn N (chồng bà G). Năm 2001, ông Trần Xuân H được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 653495, số vào sổ cấp GCN: 105/QSDĐ/472/QĐ – UB 5-9-1998, ngày 14/3/2001, sổ thửa 2a, phần ghi thêm khoảnh 4, tiểu khu A diện tích 24.000 m² mang tên ông Trần Xuân H.
Năm 2007, gia đình bà G và gia đình ông ông H đều có đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên. Ngày 25/12/2008, hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO536458, số vào sổ cấp GCN: H00155, đối với thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10, tại thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị) với diện tích 20.945m². Ngày 25/12/2008, hộ ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H00166, đối với thửa đất số 239, tờ bản đồ số 10, tại thôn C, xã Q (nay là xã L), huyện Q, tỉnh Quảng Bình, diện tích 40.434 m².
Sau khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008, diện tích đất được cấp đổi của gia đình ông H1 tăng lên so với diện tích năm 1998 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 mà gia đình ông H1 đã nhận; còn gia đình bà G thì diện tích giảm xuống so với diện tích đã nhận năm 1998 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 mà gia đình bà G đã nhận. Năm 2008, cả hộ bà G, ông H1 đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng một thời điểm. Tại hồ sơ xin cấp đất lâm nghiệp của mỗi hộ gia đình đều có đơn xin giao đất lâm nghiệp với diện tích đã được trích đo đối với thửa đất, biên bản kí xác nhận giáp ranh của các hộ liền kề. Mặt khác, tại thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Trần Xuân H là người trực tiếp dẫn đạc ranh giới và sau khi ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H không có ý kiến gì về ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về quy trình giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định; kết quả:
- Thửa đất đứng tên hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G thuộc thửa số 262 tờ bản đồ số 10, địa chỉ: thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị), diện tích 4.228.48m², theo ông B dẫn đạc có tứ cạnh cụ thể như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 231, 245; Phía Đông giáp thửa đất 272; Phía Nam giáp thửa đất 275, 288, 302; Phía Tây giáp thửa đất 239.
- Thửa đất đứng tên hộ ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 thuộc thửa đất số 239, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị), diện tích 64.772.94m², theo ông H1 dẫn đạc có tứ cạnh cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất giao thông; Phía Đông giáp thửa đất 231, 262; Phía Nam giáp thửa 275; Phía Tây giáp thửa đất 234, 262.
Như vậy, căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên tranh chấp và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định diện tích đất mà gia đình bà G đang sử dụng ít hơn diện tích đất đã cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; còn diện tích đất mà gia đình ông H1 đang sử dụng tăng theo so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định gia đình ông H1 đã sử dụng sang phần đất của gia đình bà G tại thửa 262 tờ bản đồ số 10 thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị) với diện tích 15.866,04 m². Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị G là có cơ sở.
[2.2]. Xem xét cây trồng trên đất tranh chấp do ông H1, bà H1 xây dựng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất thỏa thuận: Do cây chưa đến tuổi thu hoạch nên giao cho ông Trần Xuân H tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ số cây tràm do vợ chồng ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 đã trồng trên diện tích lấn chiếm, đến ngày 31/10/2027 ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 sẽ tự thu hoạch toàn bộ số cây trên và trả lại diện tích đất cho gia đình bà G. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận này trong quyết định của Bản án sơ thẩm. Do vậy, quyết định của bản án sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến lợi ích của bị đơn trong trường hợp này.
[3]. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Bản án sơ thẩm đã đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, cần chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của TAND khu vực 3 - Quảng Trị.
[4]. Về án phí: Bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 17/9/2025 của TAND khu vực 3 - Quảng Trị.
Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 148, Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai 2013; Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 189, Điều 190, Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 579, Điều 580 của Bộ luật Dân sự; xử :
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị G, buộc ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 trả lại toàn bộ diện tích đất đã chiếm là 15.866,04m² tại thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10 tại Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị) cho bà Hoàng Thị G và các đồng thừa kế của ông Trần Văn N là chị Trần Thị L, anh Trần Văn B1 và anh Trần Văn Đ (Theo sơ đồ là phần gạch chéo, sơ đồ là phần không tách rời của bản án).
Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO536450, ngày 25/12/2008 do UBND huyện Q (cũ) cấp cho hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G tại thửa 262, tờ bản đồ 10 xã Q (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) và yêu cầu ông Trần Đức Ủ phải trả lại diện tích đất cho bà Hoàng Thị G.
Về cây trên đất: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Do cây chưa đến tuổi thu hoạch nên giao cho ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ số cây tràm do vợ chồng ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 đã trồng trên diện tích lấn chiếm, đến ngày 31/10/2027 ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 sẽ tự thu hoạch toàn bộ số cây trên và trả lại diện tích đất cho gia đình bà Hoàng Thị G.
- Về án phí: Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Hồng Phước |
|
CÁC THẨM PHÁN |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Từ Thị Hải Dương |
Trần Anh Tuấn Phan Hồng P |
4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 6.900.000 đồng. Bà Hoàng Thị G đã nộp nên buộc ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 phải trả cho bà G số tiền 6.900.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đề nghị các bên đương sự xem xét, thống nhất sử dụng phần đất của mình theo ranh giới, mốc giới và diện tích, sơ đồ hiện trạng đã được nhà nước cấp để ổn định tình hình, không làm ảnh hưởng đến các hộ xung quanh.
Ngày 28/3/2025, Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Quảng Trị) tiến hành xem xét thẩm định và định giá các thửa đất tranh chấp, gồm:
*Thửa đất đứng tên hộ ông Trần Văn N và bà Hoàng Thị G thuộc thửa số 262 tờ bản đồ số 10, địa chỉ: thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị), diện tích 4.228.48m2, theo ông B dẫn đạc có tứ cạnh cụ thể như sau:
- - Phía Bắc giáp thửa đất số 231, 245.
- - Phía Đông giáp thửa đất 272.
- - Phía Nam giáp thửa đất 275, 288, 302.
- - Phía Tây giáp thửa đất 239.
Tổng diện tích và chiều dài các cạnh có sơ đồ kèm theo.
*Thửa đất đứng tên hộ ông Trần Xuân H và bà Trần Thị H1 thuộc thửa đất số 239, tờ bản đồ số 10, địa chỉ: thôn C, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là Thôn C, xã T, tỉnh Quảng Trị), diện tích 64.772.94m2, theo ông H1 dẫn đạc có tứ cạnh cụ thể như sau:
- - Phía Bắc giáp đất giao thông.
- - Phía Đông giáp thửa đất 231, 262.
- - Phía Nam giáp thửa 275.
- - Phía Tây giáp thửa đất 234, 262.
Tổng diện tích và chiều dài các cạnh có sơ đồ kèm theo.
* Theo dẫn đạc của bị đơn ông Trần Xuân H thì ông H đã sử dụng sang phần đất của thửa đất số 262, tờ bản đồ số 10 của gia đình bà G với tổng diện tích 15.866,04m2 (có tứ cạnh và chiều dài các cạnh theo sơ đồ kèm theo).
* Theo kết quả định giá tài sản:
- - Phần cây keo mật độ 4.000 - 5.000 cây/ha, cây trồng dưới 45 ngày với diện tích 5.559,81 m2, có giá trị 37.511.700 đồng/ha x 5.559,81 m2 = 20.855.792 đồng
- - Phần cây keo mật độ 4.000 - 5.000 cây/ha, cây keo trồng hơn 1 năm tuổi, có Ø từ 2 đến 3cm trên diện tích 10.306,23 m2, có tổng giá trị 56.605.900 đồng/ha x 10.306,23 m2 = 58.339.342 đồng.
Tổng giá trị cây trên đất là 79.195.134 đồng
- Đất rừng sản xuất tự nhiên có giá 8.000 đồng/m2 có giá trị: 15.866,04m2 x 8.000 đồng = 126.928.320 đồng.
Bản án số 01/2026/DS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 01/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Hoàng Thị G với Trần Xuân H
