Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/TCDS-ST

Ngày 15 - 03 - 2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Duy Phú
  2. Ông Hoàng Thanh Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2024/TLST-TCDS ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-TCDS ngày 20/11/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ. Địa chỉ: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Thanh H - Giám đốc chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ.

Người được ủy quyền lại:

+ Bà Nguyễn Thị T - Phó trưởng Phòng Quản lý rủi ro chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Địa chỉ: Số 332A, đường Quang Trung, phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

2

2. Bị đơn: Ông Phạm Quốc M, sinh năm 1982 và bà Đồng Thị M1, sinh năm 1986.

Cùng trú tại: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên toà, đại diện Nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung của Đơn khởi kiện đề ngày 28/5/2024, Bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng B) và ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2022/10577040/HĐTD ngày 08/7/2022 để vay và rút vốn số tiền 1.000.000.000 đồng; thời hạn vay là 18 tháng; nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân bên vay và gia đình. Lãi suất vay quy định cụ thể theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình, ông M, bà M1 đã sử dụng các tài sản sau để đảm bảo vay vốn tại Ngân hàng, cụ thể:

  • + 01 quyền sử dụng đất tại thửa đất số 606, tờ bản đồ số 7 tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 286813, số vào sổ: CH 00072 do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 04/9/2013 cho ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/10577040/HĐBĐ ngày 15/12/2017 ký giữa ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 với Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 15/12/2017, số chứng thực: 570, quyển số 01/2017 - SCT/HĐ,GD; đăng ký thế chấp ngày 18/12/2017 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q, tỉnh Quảng Bình; thế chấp tài sản gắn liền trên thửa đất nói trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2017/10577040/HĐTC ngày 15/12/2017 ký giữa ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 với Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình ngày 15/12/2017, số chứng thực: 571, quyển số 01/2017 - SCT/HĐ,GD.
  • + 01 Tàu cá vỏ gỗ theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá có số đăng ký QB 93005 TS được Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Q cấp ngày 18/01/2016 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 02/2017/10577040/HĐTC ngày 18/12/2017 ký giữa ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 với Phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 22/3/2024 theo đúng quy định.

3

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông M, bà M1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết và để phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng vào ngày 15/9/2023.

Hiện tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Hết ngày 14/01/2025), ông M, bà M1 còn nợ Ngân hàng B số tiền là 971.891.519 đồng (Chín trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm mười chín đồng). Trong đó, nợ gốc: 820.100.000 đồng; nợ lãi trong hạn : 5.668.801 đồng; nợ lãi quá hạn là: 103.937.675 đồng và phí chậm trả 42.185.043 đồng.

Vì vậy, Ngân hàng B khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn yêu cầu buộc ông M, bà M1 phải thanh toán cho Ngân hàng B toàn bộ số tiền nợ trên và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/01/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ vay cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông M, bà M1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết dư nợ vay thì ông M, bà M1 có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng mọi tài sản và thu nhập hợp pháp khác để thanh toán hết số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng.

Về phía bị đơn ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải nhiều lần nhưng ông M, bà M1 đều vắng mặt không rõ lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết nên Tòa án không thể tổ chức hòa giải được.

Tuy nhiên, tại buổi làm việc xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 29/8/2024, có mặt bị đơn bà M1 tham gia nên Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn đã yêu cầu bà M1 viết bản tự khai nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tại Bản tự khai, bà Đồng Thị M1 trình bày: bà thừa nhận vợ, chồng bà đã cùng ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh B1 để vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông, bà đã thế chấp cho ngân hàng các tài sản gồm 01 quyền sử dụng đất và tài sản trên đất; 01 tàu cá vỏ gỗ thuộc quyền sở hữu của ông, bà. Các thông tin của Hợp đồng tín dụng và tài sản thế chấp đúng như phía đại diện Ngân hàng đã trình bày. Việc ký kết các Hợp đồng giữa vợ chồng ông, bà với Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không có sự lừa dối hay cưỡng ép. Quá trình vay vốn, ông, bà chỉ mới thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng một khoản tiền gốc và lãi phát sinh. Do công việc làm ăn khai thác hải sản gặp khó khăn, nên kể từ tháng 9 năm 2023 đến nay, ông, bà không có khả năng để trả nợ cho Ngân hàng, do đó đã để dẫn đến quá hạn khoản vay. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông, bà trả nợ số nợ gốc và khoản tiền lãi phát sinh thì bà có nguyện vọng xin Ngân hàng cho được trả nợ dần cho

4

đến khi hết nợ. Trường hợp ông, bà không trả được nợ thì yêu cầu xử lý các tài sản mà ông, bà đã thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Theo kết quả xác minh tại Công an xã C cho thấy: Ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 đều có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện ông M và bà M1 vẫn đều đang có mặt địa phương.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 đã được triệu tập hợp lệ 03 lần đến tham gia phiên tòa vào các ngày 11/12/2024, ngày 30/12/2024 và ngày 15/01/2025 nhưng ông, bà vẫn vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung: Thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 157, 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh M, chị M1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B tính đến hết ngày 14/01/2025 với tổng số tiền là: 971.891.519 đồng (Chín trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm mười chín đồng). Trong đó, nợ gốc: 820.100.000 đồng; nợ lãi trong hạn : 5.668.801 đồng; nợ lãi quá hạn là: 103.937.675 đồng và phí chậm trả 42.185.043 đồng.

Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng BIDV theo quy định của pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng theo quy định. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2022/10577040/HĐTD ngày 08/7/2022 với Ngân hàng B là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông M, bà M1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như

5

thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp trên là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Mặc dù ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 có địa chỉ cư trú tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình nhưng căn cứ theo nội dung tại Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 01/2022/10577040/HĐTD ngày 08/7/2022, hai bên thống nhất Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông M, bà M1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa lần thứ ba, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, cần căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của phía nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định:

Giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 - Phòng giao dịch H và anh Phạm Quốc M, chị Đồng Thị M1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2022/10577040/HĐTD ngày 08/7/2022. Phía Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho anh M, chị M1 theo Hợp đồng là 1.000.000.000 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay này, anh M, chị M1 đã thế chấp cho Ngân hàng 01 con tàu vỏ gỗ, theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 02/2017/10577040/HĐTC ngày 18/12/2017 và 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo các Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/10577040/HĐBĐ ngày 15/12/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2017/10577040/HĐTC ngày 15/12/2017. Các Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Như vậy, Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp bất động sản và Hợp đồng thế chấp tài sản có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và phía bị đơn thừa nhận, thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi, nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn và tính lãi trong hạn, quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi

6

phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết. Bảng tính lãi trong hạn và lãi quá hạn do Ngân hàng cung cấp đã tính đúng số ngày, mức lãi suất áp dụng trong hợp đồng tín dụng.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 116, 117, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (B). Buộc ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng B số tiền nợ tính đến hết ngày 14/01/2025 với tổng số tiền là: 971.891.519 đồng (Chín trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm mười chín đồng). Trong đó, nợ gốc: 820.100.000 đồng; nợ lãi trong hạn : 5.668.801 đồng; nợ lãi quá hạn là: 103.937.675 đồng và phí chậm trả 42.185.043 đồng. Kể từ ngày xét xử sơ thẩm (15/01/2025) trở đi, anh M, chị M1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Xét yêu cầu đối với tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, ông M, bà M1 đã ký với Ngân hàng B các hợp đồng thế chấp là Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/10577040/HĐBĐ ngày 15/12/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 02/2017/10577040/HĐTC ngày 18/12/2017 để thế chấp các tài sản lần lượt là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 606, tờ bản đồ số 7, diện tích 127,2m² tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 286813, số vào sổ: CH 00072 do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 04/9/2013 cho ông M, bà M1 và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên là một ngôi nhà hai tầng, xây dựng năm 2017 và 01 tàu cá vỏ gỗ theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá có số đăng ký QB 93005 TS được Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Q cấp ngày 18/01/2016 cho ông M.

Đối với tài sản gắn liền trên thửa đất nói trên, qua thẩm định thực tế, Hội đồng thẩm định xét thấy tài sản gắn liền với thửa đất nói trên là một ngôi nhà hai tầng, tầng 1 có diện tích là 116,17m², tầng 2 có diện tích là 110,97m²; trong đó, một phần diện tích của tầng 1 là 9,55m² xây dựng vượt phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Theo sơ đồ bản vẽ thể hiện, phần diện tích của tầng 1 xây dựng vượt phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp bao gồm phần mái che 1,80m²; phần nhà 0,76m² và phần si nô 6,99m².

Theo đó, Toà án chỉ chấp nhận các phần hợp đồng thế chấp có phần tài sản và diện tích đất sử dụng theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho

7

Ngân hàng, đối với diện tích đất và tài sản trên đất xây dựng vượt quá diện tích đất đã thế chấp thì Toà án không chấp nhận; do đó, khi xử lý các tài sản thế chấp này để thu hồi nợ cho Ngân hàng, bị đơn ông M, bà M1 có nghĩa vụ phá bỏ phần diện tích đã xây dựng vượt quá diện tích tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân hàng trước khi bán đấu giá tài sản thế chấp.

Như vậy, do các hợp đồng thế chấp giữa hai bên đã có hiệu lực để thi hành nên trong trường hợp ông M, bà M1 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng B yêu cầu Tòa án tuyên quyền xử lý các tài sản thế chấp là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự nên cần được chấp nhận; nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết dư nợ vay thì ông M, bà M1 có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng mọi tài sản và thu nhập hợp pháp khác để thanh toán hết số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng.

Xét quan điểm, đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng, Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 6.000.000 đồng; quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi phí hết; Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông M, bà M1 phải chịu toàn bộ khoản chi phí này theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo đó, buộc ông M, bà M1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 6.000.000 đồng.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B được chấp nhận nên ông M, bà M1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng B theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 116, 117, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Xét xử vắng bị đơn ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1
  2. 8

  3. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ: buộc ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ tính đến hết ngày 14/01/2025 là 971.891.519 đồng (Chín trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm mười chín đồng). Trong đó, nợ gốc: 820.100.000 đồng; nợ lãi trong hạn : 5.668.801 đồng; nợ lãi quá hạn là: 103.937.675 đồng và phí chậm trả 42.185.043 đồng.
  4. Kể từ ngày xét xử sơ thẩm (15/01/2025), ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  5. Trường hợp ông M, bà M1 không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ, cụ thể:
    • - 01 quyền sử dụng đất của thửa đất số 606, tờ bản đồ số 7, diện tích 127,2m² tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 286813, số vào sổ: CH 00072 do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 04/9/2013 cho ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên là một ngôi nhà hai tầng. Tầng 1 có diện tích là 116,17m²; tầng 2 có diện tích là 110,97m². Trong đó, một phần diện tích của tầng 1 là 9,55m² (Cụ thể: phần mái che 1,80m²; phần nhà 0,76m² và phần si nô 6,99m²) xây dựng vượt phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
    • - 01 tàu cá vỏ gỗ theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá có số đăng ký QB 93005 TS được Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Q cấp ngày 18/01/2016 cho ông Phạm Quốc M.

    Khi xử lý tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2017/10577040/HĐBĐ ngày 15/12/2017, đối với thửa đất số 606, tờ bản đồ số 7, tại thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình để thu hồi nợ, ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 có nghĩa vụ phá bỏ các tài sản trên 9,55m² đã xây dựng vượt phần diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 286813, số vào sổ: CH 00072 do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 04/9/2013 cho ông Phạm Quốc M và bà Đồng Thị M1 (Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).

  6. 9

  7. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Quốc M, bà Đồng Thị M1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
  8. Về án phí:
    • - Buộc anh Phạm Quốc M, chị Đồng Thị M1 phải nộp 41.156.745 đồng (Bốn mươi mốt triệu một trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí 21.880.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng) mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003362 ngày 20/6/2024.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  9. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Đối với người có mặt) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản hoặc niêm yết bản án (Đối với người vắng mặt).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Tình

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/TCDS-ST ngày 15/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2025/TCDS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam-Ông Phạm Quốc Mạnh, sinh năm 1982 và bà Đồng Thị Mai, sinh năm 1986
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger