|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01 / 2025 / KDTM-ST
Ngày: 24 – 02 - 2025
V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nghiêm Hoài Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Ninh Viết Tùng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 16/2024/TLST-KDTM ngày 15/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QÐST-KDTM ngày 06/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-KDTM ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C (V).
Địa chỉ: số A, đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp (theo ủy quyền): ông Nguyễn Thượng H, bà Đinh Thị Bích L, bà Nguyễn Thị Thu H1 – cán bộ Ngân hàng TMCP C Chi nhánh H2 (theo văn bản ủy quyền số 652/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 25/6/2024 của chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP C và văn bản ủy quyền lại số 441/UQ-CNHB-TCTH ngày 10/9/2024 của Giám đốc Ngân hàng TMCP C Chi nhánh H2).
-
- Bị đơn: Công ty TNHH P. Mã số doanh nghiệp: 0108576529, đăng ký lần đầu ngày 07/01/2019, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 04/10/2023. Địa chỉ: U, lô A, Khu đô thị D, phường Y, quận H, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị N, chức vụ: Giám đốc.
-
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Nam D, sinh năm 1982,
- Bà Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 1985.
Cùng trú tại: U, Khu đô thị D, phường Y, quận H, TP Hà Nội.
Bà H1, ông H có mặt; bà N, ông D, bà N1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và tại lời khai trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Thu H1 – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH P trước đây là Công ty cổ phần P và Công ty TNHH D1, Mã số doanh nghiệp A, có trụ sở tại: U, Khu đô thị D, phường Y, quận H, TP Hà Nội (sau đây gọi là Công ty P). Công ty P có quan hệ tín dụng với V từ lâu và tiếp quản nguyên trạng tài sản, các quyền, nghĩa vụ của Công ty cổ phần P và Công ty TNHH D1. Đến nay, giữa Công ty P và V còn duy trì các hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:
-
- Khoản vay thứ nhất: Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT250-ANPHU ký ngày 16/01/2023; hạn mức cho vay là 2,5 tỷ đồng, gồm các khoản nợ trên cơ sở điều chỉnh bởi Hợp đồng cho vay số [...]/2021-HĐCVHM/NHCT250-MOITRUONGHB ngày 02/12/2021 giữa hai bên (dư nợ theo hợp đồng này tính tới ngày 29/5/2023 là 2.189.062.500 đồng, thể hiện trên giấy nhận nợ số 04 ngày 28/11/2022 và giấy nhận nợ số 05 ngày 29/11/2022). Mục đích cho vay: bổ sung vốn lưu động kinh doanh cây xanh, cây cảnh, trả tiền hàng. Thời hạn 06 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất 9%/năm.
Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty P tổng số: 2.499.062.500đ, thể hiện trên 03 Giấy nhận nợ (số 04 ngày 28/11/2022: 1.503.360.000; số 05 ngày 29/11/2022: 685.702.500 và số 01 ngày 17/01/2023: 310.000.000. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty P mới trả 38.066.644 đồng tiền lãi, đến ngày 28/3/ 2023 phát sinh nợ quá hạn; tổng số nợ tính tới ngày 24/02/2025 là 3.141.127 đồng (trong đó: Nợ gốc: 2.499.062.500 đồng; lãi quá hạn 447.675.848 đồng; lãi phạt quá hạn 194.389.517 đồng).
-
- Khoản vay thứ hai: Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số [...]/2020-HĐCVDADT/NHCT250-MOI TRUONG HB ngày 09/01/2020; văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay dự án đầu tư số [...]/2020-HDCVDADT-SĐBS01/NHCT250-MOITRUONG HB ký ngày 08/08/2022; số tiền cam kết cho vay là 817.600.000 đồng; mục đích vay: đầu tư dự án, mua mới 01 xe ô tô KIA SEDONA; thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất 10%/năm.
Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH D1 (nay là Công ty TNHH MTV P) tổng số: 817.600.000 đồng, theo giấy nhận nợ ngày 09/01/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty P mới trả được 577.600.000 đồng nợ gốc và 89.652.023 đồng tiền lãi và phát sinh nợ quá hạn từ ngày 28/3/2023; tổng số nợ tính tới ngày 24/02/2025 là: 442.777.274 đồng (trong đó: gốc 337.600.000 đồng; lãi quá hạn: 84.168.767 đồng; lãi phạt quá hạn: 21.008.507 đồng).
-
- Khoản vay thứ ba: Hợp đồng cho vay dự án đầu tư số [...]/2019-HĐCVDADT/NHCT250-MOITRUONGHB ký ngày 24/6/2019; văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng số [...]/2019-HĐCVDADT-SĐBS01/NHCT250-MOITRUONGHB ký ngày 08/8/2022; số tiền cam kết cho vay là 3.650.000.000 đồng; mục đích vay: thanh toán chi phí đầu tư hệ thống vườn ươm, máy sàng đất, máy trộn đất phục vụ kinh doanh cây cảnh, cây công trình; thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất 9,5%/năm.
Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty CP P (nay là Công ty TNHH P) tổng số 3.650.000.000 đồng, theo giấy nhận nợ ngày 24/6/2019. Quá trình vay, Công ty mới trả được 2.555.000.000 đồng tiền gốc và 886.488.968 đồng tiền lãi và phát sinh nợ quá hạn từ ngày 28/3/2023; tổng số nợ tính tới ngày 24/02/2025 là 1.456.593.750 đồng (trong đó: gốc 1.095.000.000 đồng; lãi quá hạn: 273.000.000 đồng; lãi phạt quá hạn: 88.593.750 đồng).
Như vậy, tổng số tiền Công ty P còn nợ theo 03 hợp đồng trên tính đến ngày 24/02/2025 là 5.040.498.889 đồng (trong đó: gốc 3.931.662.500 đồng; lãi quá hạn 804.844.615 đồng; lãi phạt quá hạn 303.991.774 đồng).
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên gồm có:
- (1) Quyền sử dụng đất số CO 402791 do UBND huyện K cấp ngày 16/5/2019, thửa số 84, tờ bản đồ số 01 tại xã T, TP H, chủ sử dụng đất là ông Trần Nam D, bà Nguyễn Thị Thu N1; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 35/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 17/5/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp QSDĐ số 01-35/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 16/01/2023 giữa V với ông D và bà N1.
- (2) Quyền sử dụng đất số CO 402749 do Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/5/2019, thửa số 22, tờ bản đồ số 01 tại xã T, TP H, chủ sử dụng đất là ông Trần Nam D, bà Nguyễn Thị Thu N1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 36/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 23/5/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp QSDĐ số 01-36/ KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 16/01/2023 giữa V với ông D và bà N1.
- (3) 01 máy sàng đất theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 45/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 24/6/2019 giữa V với Công ty TNHH D1.
- (4) 01 máy trộn đất theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 46/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 24/6/2019 giữa V với Công ty TNHH D1.
- (5) Toàn bộ hệ thống nhà vườn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cây xanh, cây cảnh gồm 01 nhà ươm hạt diện tích 350m²; 01 nhà đóng bầu và trộn đất diện tích 1.000m²; 01 nhà ươm cây diện tích 700m² tại xã T, TP H theo Hợp đồng thế chấp động sản số 47/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 24/6/2019 giữa V với Công ty TNHH D1.
Đối với tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại SEDONA, BKS 30G-120.39 thuộc sở hữu của Công ty TNHH D1 theo hợp đồng thế chấp số 02-KHDN/2020/HĐBĐ/NHCT 250 ký ngày 09/01/2020 giữa Ngân hàng và Công ty TNHH D1, tài sản này cũng dùng để đảm bảo cho tất cả các khoản vay của Công ty P và đã được Ngân hàng giải chấp nên không đề nghị Tòa án xử lý.
Ngân hàng đã nhiều lần thông báo và làm việc với Công ty P để đôn đốc trả nợ nhưng Công ty không thực hiện, do đó V khởi kiện Công ty P, đề nghị Tòa án:
- - Buộc Công ty TNHH P (gọi tắt là Công ty P) phải trả cho V toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng đã nêu ở trên, tổng dư nợ tạm tính đến ngày 24/02/2025 là: 5.040.498.889 đồng (trong đó: gốc 3.931.662.500 đồng; lãi quá hạn 804.844.615 đồng; lãi phạt quá hạn 303.991.774 đồng).
- Công ty P tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn cho V theo mức lãi suất đã thỏa thuận kể từ sau ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong nợ.
- - Trường hợp Công ty P không thực hiện đầy đủ, đúng nghĩa vụ trả nợ thì V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm đã nêu ở trên theo Hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi nợ.
2. Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị N – đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty P trình bày:
Bà có quen biết bà N1 và ông D trong quá trình giao dịch mua bán đất để làm homestay tại xóm C, xã H, TP H. Bà N khẳng định, bà không tham gia bất cứ hoạt động nào hay giữ chức vụ gì tại Công ty P. Chỉ đến khoảng tháng 10/2024, khi được Chi cục Thuế quận H gửi thông báo tạm hoãn xuất cảnh với lý do Công ty P nợ thuế thì bà mới biết sự việc. Bà không biết Công ty P ở đâu, làm ăn như thế nào, vay tiền của ai. Mọi vấn đề có liên quan tới Công ty P, bà N đề nghị Tòa án làm việc với bà N1 và ông D vì họ là chủ công ty và xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, các phiên họp, phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Nam D và bà Nguyễn Thị Thu N1 đã được tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập, văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản nêu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án.
4. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng dân sự:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP C (gọi tắt là V) khởi kiện Công ty TNHH P (gọi tắt là Công ty P) đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân tại V chi nhánh H2. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm g khoản Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.
[1.2]. Về tư cách tham gia tố tụng của bị đơn: Công ty TNHH P (loại hình Công ty TNHH một thành viêP) tiền thân là Công ty cổ phần P, trước đó là Công ty TNHH D1, Mã số doanh nghiệp 0108576529, đăng ký lần đầu ngày 07/01/2019, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 04/10/2023; có trụ sở tại: U, KĐT D, phường Y, quận H, TP Hà Nội. Căn cứ Điều 30, khoản 4 Điều 196, khoản 4 Điều 197 Luật doanh nghiệp năm 2014; Điều 29, khoản 4 Điều 202, khoản 4 Điều 203 Luật doanh nghiệp năm 2020; khoản 3 Điều 48 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì Công ty P đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi. Do đó, Công ty P chịu trách nhiệm với các khoản nợ của Công ty TNHH D1 và Công ty cổ phần P và là bị đơn trong vụ án này.
[1.3]. Về sự có mặt của đương sự: nguyên đơn có đơn đề nghị không hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Theo tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn, Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố H cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án, Công ty P và ông D, bà N1 có cùng địa chỉ tại U Khu đô thị D, tổ B, phường Y, quận H, TP Hà Nội, không có tài liệu, chứng cứ thể hiện có địa chỉ hoạt động, nơi cư trú nào khác. Từ thời điểm ký kết, thực hiện hợp đồng cho tới nay, bên có nghĩa vụ không có bất cứ phản hồi nào với Ngân hàng về việc thay đổi địa chỉ so với địa chỉ ghi trên hợp đồng. Do đó, việc Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho Công ty P, ông D, bà N1 tại địa chỉ nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Người đại diện theo pháp luật của bị đơn là bà Nguyễn Thị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Nam D và bà Nguyễn Thị Thu N1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Như vậy, việc Tòa án xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với toàn bộ khoản nợ vay và lãi phát sinh của Công ty P tại V theo các hợp đồng tín dụng:
Đối chiếu với các tài liệu nguyên đơn cung cấp thể hiện quá trình thực hiện hợp đồng, V đã giải ngân cho Công ty P 7.881.862.500 đồng với số tiền giải ngân, thời hạn vay và mức lãi suất được thể hiện trên từng giấy nhận nợ, phù hợp với hợp đồng tín dụng đã ký. Đến nay, Công ty P mới trả được một phần nợ gốc và nợ lãi. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các khoản vay của Công ty P đã bị chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu lãi trên nợ gốc quá hạn theo thỏa đã ký với Ngân hàng.
Nội dung các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ về khoản nợ vay, lãi suất, trách nhiệm trả nợ phù hợp với quy định tại Điều 280, 462, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên phát sinh hiệu lực với các bên về quyền, nghĩa vụ và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, đại diện theo pháp luật của Công ty, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông D, bà N1 cũng không có bất cứ phản hồi, ý kiến gì đối với các nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng M đã được Tòa án triệu tập, thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn cung cấp bảng kê chi tiết về khoản vay, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ đã ký giữa V và Công ty A1 đến thời điểm xét xử sơ thẩm 24/02/2025, sau khi kiểm tra, đối thiếu, HĐXX xét thấy đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật và đúng theo thỏa thuận của các bên nêu trong các hợp đồng tín dụng, các giấy nhận nợ nên có cơ sở để chấp nhận phần nợ gốc và lãi tính đến ngày 24/02/2025 là 5.040.498.889 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty P không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Xét thấy, ông Trần Nam D và bà Nguyễn Thị Thu N1 đã kí kết 5 hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty P tại V: QSDĐ thửa số 84, tờ bản đồ số 01 tại xã T, TP H; QSDĐ thửa số 22, tờ bản đồ số 01 tại xã T, TP H; 01 máy sàng đất; 01 máy trộn đất; Toàn bộ hệ thống nhà vườn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cây xanh, cây cảnh gồm 01 nhà ươm hạt diện tích 350m²; 01 nhà đóng bầu và trộn đất diện tích 1.000m²; 01 nhà ươm cây diện tích 700m² tại xã T, TP H.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ các tài sản trên nhưng đại diện Công ty P, ông D, bà N1 không có mặt, không có yêu cầu, đề nghị hoặc có ý kiến gì. Khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, Tòa án đã ghi nhận hiện trạng, vị trí, diện tích các quyền sử dụng đất được bảo đảm không có thay đổi so với thời điểm ký hợp đồng thế chấp và không phát sinh thêm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải quyết vụ án.
Đối với các động sản gồm 01 máy sàng đất, 01 máy trộn đất, hệ thống nhà vườn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cây xanh, cây cảnh (gồm 01 nhà ươm hạt diện tích 350m²; 01 nhà đóng bầu và trộn đất diện tích 1.000m²; 01 nhà ươm cây diện tích 700m²). Tòa án đã yêu cầu Công ty P đưa các tài sản trên đến vị trí đặt nhà xưởng, máy móc tại xã T, TP H, tỉnh Hòa Bình song Công ty P không thực hiện. Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/01/2025, đối chiếu với hồ sơ thế chấp động sản, đăng ký giao dịch bảo đảm và trình bày của bên nhận thế chấp, qua kiểm tra thực tế thấy rằng toàn bộ nhà xưởng, máy móc được thế chấp cho V không còn nguyên vẹn, bỏ hoang, không hoạt động.
HĐXX xét thấy, các giao dịch bảo đảm nêu trên đã được các bên thực hiện theo đúng quy định về nội dung và hình thức, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên có hiệu lực pháp luật. Tại mục 1.02 Điều 1 của các Hợp đồng thế chấp nêu trên, các bên thỏa thuận “Nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn của bên được bảo đảm đối với bên nhận thế chấp phát sinh từ tất cả các hợp đồng cho vay...mà bên được bảo đảm ký với bên nhận thế chấp trước, cùng/hoặc sau thời điểm ký kết hợp đồng này. Giá trị tài sản thế chấp được các bên thống nhất chỉ có ý nghĩa liên quan đến việc xác định khoản tín dụng được cấp mà không bắt buộc phải được áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp. Ngoài ra, tại điều khoản về biện pháp bảo đảm nêu trong hợp đồng tín dụng, các bên cũng thỏa thuận khoản vay được bảo đảm các hợp đồng bảo đảm xác lập trước và/hoặc cùng thời điểm, hoặc sau thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng. Từ những nhận định trên, HĐXX có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của V về việc được đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại các tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ khi Công ty P không trả hoặc không trả đủ khoản nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm phát mãi không đủ nghĩa vụ để trả nợ thì Công ty P vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho V.
Đối với tài sản bảo đảm là 01 xe oto nhãn hiệu KIA, loại SEDONA, BKS 30G-120.39 theo hợp đồng thế chấp số 02-KHDN/2020/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 09/01/2020 đã được giải chấp, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí
Công ty P phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho V tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 116, Điều 119, Điều 280, Điều 318, Điều 319, Điều 323, Điều 351, Điều 353, Điều 357, 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
- - Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014.
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C.
- Buộc Công ty TNHH P phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền nợ tính đến ngày 24/02/2025 là 5.040.498.889 đồng (năm tỷ, không trăm bốn mươi triệu, bốn trăm chín mươi tám nghìn, tám trăm tám mươi chín đồng); trong đó: gốc là 3.931.662.500 đồng; lãi quá hạn là 804.844.615 đồng; lãi phạt quá hạn là 303.991.774 đồng.
- Công ty TNHH P phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ đã ký kết (bằng 150% lãi suất trong hạn) kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà Công ty P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; cụ thể gồm các tài sản sau:
- - Quyền sử dụng đất số CO 402791 do UBND huyện K cấp ngày 16/5/2019, thửa số 84, tờ bản đồ số 01 tại xã T, TP H, chủ sử dụng đất là ông Trần Nam D, bà Nguyễn Thị Thu N1; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 35/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 17/5/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp QSDĐ số 01-35/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 16/01/2023 giữa V với ông D và bà N1.
- - Quyền sử dụng đất số CO 402749 do Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/5/2019, thửa số 22, tờ bản đồ số 01 tại xã T, TP H, chủ sử dụng đất là ông Trần Nam D, bà Nguyễn Thị Thu N1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 36/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 23/5/2019 và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp QSDĐ số 01-36/ KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 16/01/2023 giữa V với ông D và bà N1.
- - 01 máy sàng đất theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 45/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 24/6/2019 giữa V với Công ty TNHH D1.
- - 01 máy trộn đất theo Hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị số 46/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 24/6/2019 giữa V với Công ty TNHH D1.
- - Toàn bộ hệ thống nhà vườn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cây xanh, cây cảnh gồm 01 nhà ươm hạt diện tích 350m²; 01 nhà đóng bầu và trộn đất diện tích 1.000m²; 01 nhà ươm cây diện tích 700m² tại xã T, TP H theo Hợp đồng thế chấp động sản số 47/KHDN/2019/HĐBĐ/NHCT250 ký ngày 24/6/2019 giữa V với Công ty TNHH D1.
- Trường hợp việc phát mại tài sản bảo đảm chưa đủ để thanh toán hết các khoản nợ thì Công ty TNHH P còn phải tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho đến khi hết nợ.
- Về án phí: Công ty TNHH P phải chịu 113.040.000 đồng (một trăm mười ba triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP C 56.372.000 đồng tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại đã nộp theo biên lai số 0004051 ngày 15/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nghiêm Hoài Anh |
Bản án số 01 / 2025 / KDTM-ST ngày 24/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01 / 2025 / KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
