Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRIỆU PHONG

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/KDTM-ST

Ngày 24-01-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị xây dựng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Nam và bà Nguyễn Thị Điệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Thuý – Thư ký TAND huyện Triệu Phong.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 05/2024/TLST-KDTM ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QÐST-KDTM ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH C1; địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Phước H; chức vụ: Giám đốc Công ty; có mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền: Luật sư Nguyễn Đức T- Văn phòng L; địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần T2; địa chỉ: B B khu B, đường T, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C vụ: Giám đốc Công ty; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2024, nguyên đơn Công ty TNHH MTV C1 (Công ty C1) trình bày: Các ngày 04/07/2022, 07/9/2022 và 27/03/2023, Công ty C1 và Công ty CP T2 (Công ty T2), đã tiến hành ký kết Hợp đồng thuê thiết bị số: DHV/HĐKT/TP-004, Phụ lục hợp đồng 01 và Phụ lục hợp đồng 02. Theo đó, Công ty C1 đồng ý cho Công ty T2 thuê các thiết bị cơ giới để thực hiện việc đào, đắp, san lấp mặt bằng và một số công việc khác phục vụ thi công gói thầu "Xây dựng đường H kết nối hàng lang kinh tế đông tây và khu kinh tế đông nam Quảng Trị thuộc dự án "Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Quảng Trị" (Địa điểm thực hiện hợp đồng của các phương tiện đào, đắp là: tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị). Dự án do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Trị làm chủ đầu tư nhưng ủy thác cho Ban QLDA đầu tư xây dựng tỉnh Q, giá trị của hợp đồng căn cứ vào khối lượng công việc thực hiện.

Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty C1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, định kỳ vào ngày 25 hàng tháng, Công ty đã lập và gửi hồ sơ thanh toán đúng theo quy định đến Công ty T2 để đề nghị được thanh toán giá trị khối lượng công việc đã thực hiện, tổng cộng có 07 đợt thanh toán. Trong 06 đợt thanh toán đầu tiên sau khi nhận được hồ sơ, Công ty T2 đã tiến hành thanh toán toàn bộ, hoặc một phần giá trị khối lượng công việc cho Công ty C1.

Ngày 25/06/2023, Công ty C1 gửi hồ sơ thanh toán khối lượng công việc đợt 07 (bao gồm tổng giá trị khối lượng công việc chưa được thanh toán của các đợt trước đó) đến Công ty T2, yêu cầu được thanh toán số tiền là 1.107.583.000 đồng (Một tỷ, một trăm lẽ bảy triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn đồng). Ngày 21/9 và 29/09/2023, Công ty CP T2 đã chuyển khoản thanh toán cho Công ty C1 tổng số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), còn lại 807.583.000 đồng (T1 trăm lẽ bảy triệu, năm trăm tám mươi ba ngàn). Từ ngày 30/9/2023, mặc dù Công ty C1 yêu cầu nhiều lần nhưng Công ty T2 không thanh toán số tiền còn lại.

Vì vậy, Công ty C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty T2 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty C1 số tiền 888.341.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 807.583.000 đồng và 80.758.300 đồng, tiền lãi của 12 tháng phát sinh từ tiền gốc do chậm trả tiền (ngày 29/09/2023 đến 29/09/2024) với lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty C1 bổ sung nội dung khởi kiện như sau:

Công ty C1 yêu cầu Tòa án buộc Công ty T2 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty C1 số tiền là 952.193.000 đồng, trong đó: tiền gốc là 807.583.000 đồng và tiền lãi từ ngày 30/9/2023 đến ngày 24/01/2025 số tiền là: 807.583.000 đồng x 13,56%/năm x 482 ngày/365 ngày = 144.610.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn, Công ty C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Công ty T2 phải trả số tiền 807.583.000 đồng theo Hợp đồng thuê thiết bị số: DHV/HĐKT/TP-004, Phụ lục hợp đồng 01, Phụ lục hợp đồng 02 giữa Công ty C1 và Công ty T2. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị xây dựng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

      Công ty C1 và Công ty Á ký kết Hợp đồng thuê thiết bị số: DHV/HĐKT/TP-004 để thực hiện việc đào, đắp, san lấp mặt bằng và một số công việc khác phục vụ thi công gói thầu "Xây dựng đường H kết nối hành lang kinh tế đông tây và khu kinh tế đông nam Quảng Trị” tại địa điểm thực hiện hợp đồng là xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Do đó, TAND huyện Triệu Phong thụ lý và giải quyết là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

    2. Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng: Tại Thông báo thụ lý vụ án số 05/TB-TLVA ngày 17 tháng 10 năm 2024 của TAND huyện Triệu Phong xác định Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án không liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Q nên Toà án chấm dứt tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Q.

    3. Về vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
  3. Về yêu cầu khởi kiện: Theo nội dung trình bày của nguyên đơn cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
    1. Về hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng thuê thiết bị số: DHV/HĐKT/TP-004 ngày 04/7/2022; phụ lục hợp đồng số 01 ngày 07/9/2022 và phụ lục hợp đồng số 02 ngày 27/3/2023 được ký kết bởi các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hợp đồng hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng thuê thiết bị số: DHV/HĐKT/TP-004 và Phụ lục hợp đồng 01, 02 được ký kết giữa Công ty C1 và Công ty T2 có hiệu lực pháp luật.
    2. Về yêu cầu thanh toán tiền thuê máy móc, Hội đồng xét xử thấy rằng:
      1. Về khối lượng thi công và đề nghị thanh toán.

        Ngày 25/9/2022, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 1 với số tiền là 112.800.000 đồng;

        Ngày 14/11/2022, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 2 với tổng giá trị đã thực hiện 130.462.800 đồng, trong đó giá trị thực hiện đợt 2 với số tiền là 17.662.800 đồng;

        Ngày 05/01/2023, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 3 với tổng giá trị đã thực hiện 150.454.800 đồng, trong đó giá trị thực hiện đợt 3 với số tiền là 19.992.000 đồng;

        Ngày 20/4/2023, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 4 với khối lượng thi công đợt 4 là 281.803.000 đồng;

        Ngày 25/4/2023, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 5 với tổng giá trị đã thực hiện là 362.117.200 đồng, trong đó: khối lượng thi công đợt 5 là 211.662.400 đồng;

        Ngày 20/5/2023, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 6 với tổng giá trị đã thực hiện là 974.155.700 đồng, trong đó: khối lượng thi công đợt 6 là 330.214.400 đồng;

        Ngày 25/6/2023, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 thanh toán đợt 7 với tổng giá trị đã thực hiện là 1.850.382.700 đồng, trong đó: khối lượng thi công đợt 7 là 876.227.000 đồng.

      2. Về các đợt thanh toán.

        Công ty T2 thanh toán cho Công ty C1 tổng số tiền 1.042.800.000 đồng qua các đợt như sau: ngày 17/11/2022, thanh toán số tiền: 60.000.000 đồng; ngày 24/11/2022, thanh toán số tiền: 30.000.000 đồng; ngày 27/01/2023, thanh toán số tiền: 22.800.000 đồng; ngày 04/4/2023, thanh toán số tiền: 50.000.000 đồng; ngày 10/4/2023, thanh toán số tiền: 10.000.000 đồng; ngày 11/4/2023, thanh toán số tiền: 10.000.000 đồng; ngày 12/4/2023, thanh toán số tiền: 10.000.000 đồng; ngày 19/4/2023, thanh toán số tiền: 20.000.000 đồng; ngày 29/4/2023, thanh toán số tiền: 20.000.000 đồng; ngày 10/5/2023, thanh toán số tiền: 10.000.000 đồng; ngày 16/5/2023, thanh toán số tiền: 100.000.000 đồng; ngày 23/5/2023, thanh toán số tiền: 100.000.000 đồng; ngày 08/6/2023, thanh toán số tiền: 100.000.000 đồng; ngày 14/6/2023, thanh toán số tiền: 100.000.000 đồng; ngày 21/6/2023, thanh toán số tiền: 100.000.000 đồng; ngày 21/9/2023, thanh toán số tiền: 200.000.000 đồng; ngày 29/9/2023, thanh toán số tiền: 100.000.000 đồng.

        Thấy rằng, tại các hồ sơ thanh toán từ đợt 1 đến đợt 7 do Công ty C1 lập và gửi cho Công ty T2 đều có: giấy đề nghị thanh toán; bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành; biên bản xác định khối lượng hoàn thành (có xác nhận của Chi huy trưởng của Công ty T2); Hóa đơn VAT tương ứng giá trị thanh toán).

        Tại điều 3 Hợp đồng thuê thiết bị số: DHV/HĐKT/TP-004 ngày 04/7/2022 có nội dung: “Đến ngày 25 hàng tháng, hai bên tiến hành tổng hợp, chốt khối lượng đã thực hiện trong tháng để làm cơ sở thanh toán cho bên B.

        Sau khi nhận được hồ sơ thanh toán, trong vòng 07 ngày bên A sẽ thanh toán đến 100% giá trị thực hiện trong đợt cho bên B sau khi đã khấu trừ giá trị đã tạm ứng thanh toán trước đó và chi phí khác (nếu có).

        - Khối lượng giá trị thanh toán là khối lượng thực tế theo ca được ban chỉ huy công trình bên A xác nhận.

        - Hồ sơ thanh toán hợp lệ gồm: Giấy đề nghị thanh toán; Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành; Bảng theo dõi công việc hàng ngày có xác nhận của hai bên; bảng tổng hợp khối lượng thực hiện trong đợt có xác nhận của Ban chỉ huy công trình bên A; Hóa đơn VAT tương ứng giá trị thanh toán”.

        Như vậy, hồ sơ đề nghị thanh toán mà Công ty C1 gửi cho Công ty T2 đều đầy đủ các thủ tục theo hợp đồng các bên đã ký kết. Tuy nhiên, quá 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được đề nghị thanh toán của Công ty C1 nhưng Công ty T2 không thực hiện việc thanh toán là vi phạm hợp đồng mà các bên đã ký kết. Công ty C1 đã thi công với giá trị là 1.850.382.700 đồng nhưng Công ty T2 mới thanh toán số tiền 1.042.800.000 đồng. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Công ty C1, buộc Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty C1 số tiền là 807.583.000 đồng (làm tròn số).

      3. Về yêu cầu tính lãi chậm thanh toán.

        Tại Điều 306 Luật thương mại 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

        Ngày 25/6/2023, Công ty C1 lập hồ sơ đề nghị Công ty T2 đề nghị thanh toán số tiền 1.107.583.000 đồng. Ngày 21/9 và ngày 29/9/2023, Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty C1 tổng số tiền 300.000.000 đồng. Như vậy, từ ngày 30/9/2023, Công ty T2 chậm thanh toán cho Công ty C1 số tiền 807.583.000 đồng. Do đó, căn cứ vào Điều 306 Luật thương mại 2005, Công ty T2 phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

        Tại Công văn số: 38/NHN.TP-KH ngày 20/01/2025 của Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện T cung cấp thông tin như sau: “Lãi suất cho vay trong hạn bình quân của A Chi nhánh huyện T hiện tại là 8.65%/năm. Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tương đương 12,98%".

        Tại Công văn số 07/2025/TB-LPB.Trieuphong ngày 14/01/2025 của Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Lộc Phát huyện T cung cấp thông tin như sau: “Lãi suất ngắn hạn: 7,5%, quá hạn: 11,25%; lãi suất trung hạn: 11,4%, quá hạn: 17,1%; lãi suất dài hạn: 12,2%, quả hạn: 18,3%”.

        Tại Công văn số 24/2025/SCB.TXQT ngày 22/01/2025 của Chi nhánh ngân hàng T3- Chi nhánh thị xã Q cung cấp thông tin như sau: “Lãi suất quá hạn bình quân của các hợp đồng tín dụng hiện nay là 12,15%”.

        Do đó, Công ty T2 phải trả tiền lãi cho Công ty C1 từ ngày 30/9/2023 đến ngày 24/01/2025 số tiền là: 807.583.000 đồng x 13,56%/năm x 482 ngày/365 ngày = 144.610.000 đồng.

        Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty C1 là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Buộc Công ty T2 phải thanh toán cho Công ty C1 tổng số tiền là 952.193.000 đồng, trong đó số tiền chưa thanh toán 807.583.000 đồng, tiền lãi chậm thanh toán 144.610.000 đồng.

    3. Về án phí: Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty C1, buộc Công ty T2 có trách nhiệm trả cho Công ty C1 là 952.193.000 đồng nên Công ty T2 phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền 952.193.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 481 Bộ luật Dân sự; Điều 306 Luật thương mại 2005; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

    Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH C1. Buộc Công ty Cổ phần T2 có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH C1 tổng số tiền là 952.193.000 đồng, trong đó số tiền chưa thanh toán 807.583.000 đồng, tiền lãi chậm thanh toán 144.610.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí:
    • Bị đơn Công ty Cổ phần T2 phải chịu 40.565.000 đồng (Bốn mươi triệu, năm trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Nguyên đơn, Công ty TNHH C1 không phải chịu án phí. Trả lại cho Công ty TNHH C1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 19.325.000 đồng (Mười chín triệu, ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000201 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Triệu Phong;
  • - CCTHADS huyện Triệu Phong;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Hùng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị xây dựng

  • Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị xây dựng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê thiết bị
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger