Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/KDTM-ST

Ngày 14 - 03 - 2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Ngọc Lan
  2. Ông Hoàng Thanh Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Lực - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2024/TLST-KDTM ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-KDTM ngày 13/12/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.

Địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền:

  • + Bà Lương Thị Thu T - Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q. Địa chỉ: Số E, đường L, Thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
  • + Ông Nguyễn Trung T1 - Phó Phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q
  • + Ông Nguyễn Đức T2 - Phó Phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q
  • + Ông Nguyễn Hữu T3 - Nhân viên Phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Q
  • + Bà Phạm Thị Tố L - Nhân viên Phòng tổng hợp Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh Quảng Bình

2. Bị đơn: Ông Lê Văn T4, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1966

Cùng trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên toà, đại diện Nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2024, Bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần C (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) và ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT470 ngày 11/01/2023 để vay và rút vốn số tiền 1.650.000.000 đồng; thời hạn duy trì hạn mức là 12 tháng; nhằm mục đích bổ sung vốn kinh doanh mộc dân dụng (Gia công các loại). Lãi suất vay tại thời điểm ký kết hợp đồng là 10,5%/năm.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình, ông T4, bà M đã thế chấp tại Ngân hàng tài sản là 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 533, tờ bản đồ số 15 tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 640134, số vào sổ cấp giấy: CS 02959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/5/2021 cho ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số THUA533-MAITHIEN/2021/HĐBĐ/NHCT470 ngày 19/5/2021, ký giữa ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M với Ngân hàng Thương mại cổ phần C - Phòng G.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T4, bà M đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, chỉ trả được tổng số tiền nợ lãi là 32.387.687 đồng và chưa trả được khoản nợ gốc nào; đến ngày 05/3/2024, khoản vay của ông T4, bà M đã đến hạn lãi nhưng ông T4, bà M không thu xếp được nguồn trả nợ, không trả được nợ cho Ngân hàng và bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại hợp đồng cho vay. Do đó, khoản vay của ông T4, bà M đã bị chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 06/3/2024; từ đó đến nay, ông T4, bà M không thanh toán thêm được cho Ngân hàng khoản tiền nào.

Hiện tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 15/01/2025), ông T4, bà M còn nợ Ngân hàng V số tiền là 1.810.052.080 đồng (Một tỷ tám trăm mười triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng). Trong đó, nợ gốc là: 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng); nợ lãi 160.052.080 (Một trăm sáu mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng); bao gồm: lãi trong hạn: 135.234.230 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm ba mươi đồng), lãi quá hạn: 24.817.850 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm năm mươi đồng).

Vì vậy, Ngân hàng V khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn yêu cầu buộc ông T4, bà M phải thanh toán cho Ngân hàng V toàn bộ số tiền nợ nói trên và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/01/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông T4, bà M không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng. Trường hợp sau khi xử lý hết tài sản bảo đảm nêu trên mà vẫn không thu đủ nợ cho Ngân hàng thì ông T4, bà M còn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ số tiền còn lại cho Ngân hàng.

Về phía bị đơn ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến hòa giải nhiều lần nhưng ông T4, bà M đều vắng mặt không rõ lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

Theo kết quả xác minh tại Công an phường Q cho thấy: Ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M đều có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Hiện ông T4, bà M vẫn đều đang có mặt địa phương.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M đã được triệu tập hợp lệ 02 lần đến tham gia phiên tòa vào các ngày 30/12/2024 và ngày 15/01/2025 nhưng ông T4, bà M vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn ông T4, bà M.
  • - Về nội dung: Thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 157, 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T4, bà M phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V tính đến ngày 15/01/2025 với tổng số tiền là: 1.810.052.080 đồng (Một tỷ tám trăm mười triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng). Trong đó, nợ gốc là: 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng); nợ lãi 160.052.080 (Một trăm sáu mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng); bao gồm: lãi trong hạn: 135.234.230 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm ba mươi đồng), lãi quá hạn: 24.817.850 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm năm mươi đồng).

Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng V theo quy định của pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng theo quy định. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT470 ngày 11/01/2023 với Ngân hàng V là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự, mục đích vay vốn để bổ sung vốn kinh doanh. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T4, bà M đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp trên là tranh chấp về kinh doanh thương mại, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông T4, bà M mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-KDTM ngày 13/12/2024 và Giấy triệu tập đến phiên tòa lần thứ nhất để xét xử vào ngày 30/12/2024 nhưng bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Sau đó, Tòa án tiếp tục tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐĐST-KDTM ngày 30/12/2024 và Giấy triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai, tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M vẫn không có mặt. Do đó, cần căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của phía nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định:

Giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C và ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số [...]/2023-HĐCVHM/NHCT470 ngày 11/01/2023. Để bảo đảm cho khoản vay này, ông T4, bà M đã thế chấp cho Ngân hàng 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số THUA533-MAITHIEN/2021/HĐBĐ/NHCT470 ngày 19/5/2021. Việc ký kết các hợp đồng này giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung đều tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng.

Thực hiện Hợp đồng phía Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay cho ông T4, bà M, tuy nhiên phía ông T4, bà M lại không thực hiện đúng cam kết về việc trả nợ cho ngân hàng, đã để khoản vay quá hạn từ ngày 06/3/2024. Theo các tài liệu, chứng cứ do phía Ngân hàng cung cấp thì tính đến ngày 15/01/2025, ông T4, bà M còn dư nợ tại Ngân hàng với tổng số tiền là 1.810.052.080 đồng (Một tỷ tám trăm mười triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng). Trong đó, nợ gốc là: 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng); nợ lãi 160.052.080 (Một trăm sáu mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng); bao gồm: lãi trong hạn: 135.234.230 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm ba mươi đồng), lãi quá hạn: 24.817.850 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm năm mươi đồng). Nên việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T4, bà M trả nợ là có cơ sở.

[3] Quá trình thu thập chứng cứ, theo yêu cầu của Ngân hàng, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 533, tờ bản đồ số 15 tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, kết quả thể hiện: trên thửa đất có một ngôi nhà hai tầng cấp 3, tổng diện tích xây dựng là 112,5m²; trong đó, có phần diện tích của mái tôn phía trước nhà là 12,0m² xây dựng vượt phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

Theo đó, Toà án chỉ chấp nhận các phần hợp đồng thế chấp có phần tài sản và diện tích đất sử dụng theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân hàng, đối với phần tài sản trên đất xây dựng vượt quá diện tích đất đã thế chấp thì Toà án không chấp nhận; do đó, khi xử lý các tài sản thế chấp này để thu hồi nợ cho Ngân hàng, bị đơn ông T4, bà M có nghĩa vụ phá bỏ phần diện tích của mái tôn phía trước nhà là 12,0m² đã xây dựng vượt quá diện tích tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân hàng trước khi bán đấu giá tài sản thế chấp.

[4] Từ những phân tích, nhận định trên thấy việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là có căn cứ, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của kiểm sát viên buộc bị đơn ông T4, bà M phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 1.810.052.080 đồng (Một tỷ tám trăm mười triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng). Trong đó, nợ gốc là: 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng); nợ lãi 160.052.080 (Một trăm sáu mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng); bao gồm: lãi trong hạn: 135.234.230 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm ba mươi đồng), lãi quá hạn: 24.817.850 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm năm mươi đồng).

[5] Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng, Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 5.000.000 đồng; quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi phí hết; Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông T4, bà M phải chịu toàn bộ khoản chi phí này theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo đó, buộc ông T4, bà M có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V được chấp nhận nên ông T4, bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng V theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 116, 117, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M.
  2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C: buộc ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền còn nợ tính đến ngày 15/01/2025 là 1.810.052.080 đồng (Một tỷ tám trăm mười triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng). Trong đó, nợ gốc: 1.650.000.000 đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu đồng); nợ lãi 160.052.080 (Một trăm sáu mươi triệu không trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi đồng); bao gồm: lãi trong hạn: 135.234.230 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm ba mươi đồng), lãi quá hạn: 24.817.850 đồng (Hai mươi bốn triệu tám trăm mười bảy nghìn tám trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (15/01/2025) trở đi, ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay hạn mức, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông T4, bà M không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ, cụ thể: 01 quyền sử dụng đất số thửa 533, tờ bản đồ số 15 tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 640134, số vào sổ cấp giấy: CS 02959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/5/2021 cho ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên là một ngôi nhà hai tầng cấp 3, có tổng diện tích xây dựng là 112,5m²; trong đó, có phần diện tích của mái tôn phía trước nhà là 12,0m² xây dựng vượt phạm vi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.

Khi xử lý tài sản là tài sản gắn liền với thửa đất số 533, tờ bản đồ số 15 tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình để thu hồi nợ, ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M có nghĩa vụ phá bỏ phần diện tích của mái tôn phía trước nhà là 12,0m² đã xây dựng vượt phần diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 640134, số vào sổ cấp giấy: CS 02959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/5/2021 cho ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M (Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).

  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lê Văn T4 và bà Hoàng Thị M có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
  2. Về án phí:
    • - Buộc ông Lê Văn T4, bà Hoàng Thị M phải nộp 66.301.562. đồng (Sáu mươi sáu triệu ba trăm linh một nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền tạm ứng án phí 31.446.000 đồng (Ba mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) mà Ngân hàng Thương mại cổ phần C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003455 ngày 06/11/2024.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Đối với người có mặt) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án (Đối với người vắng mặt).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Ông Lê Văn Thiển, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị Mai, sinh năm 1966
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger