TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 01/2025/KDTM-ST Ngày: 05/3/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Châu Thành và bà Nguyễn Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ An - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2024/TLST-KDTM ngày 15/11/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-KDTM ngày 14/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐXXST-KDTM ngày 27/02/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N (A1); địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Xuân K, chức vụ: Trưởng Phòng khách hàng - A1 Chi nhánh thị xã Q (Theo giấy ủy quyền số 251/QĐ-NHNo.TXQT-KH ngày 07/11/2024); Địa chỉ nhận thông báo: Số B T, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T, địa chỉ: Khu phố E, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng N trình bày:
- Ngày 07/11/2023, ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T, đại diện theo ủy quyền là bà Hoàng Thị T theo Hợp đồng ủy quyền ngày 07/11/2023 và A1 Chi nhánh thị xã Q, đã ký Hợp đồng tín dụng số 3909-LAV-202302021 với hạn mức 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Mục đích vay vốn: Kinh doanh dịch vụ ăn uống. Thời hạn của hạn mức tín dụng là 12 tháng. Ngày giải ngân là 08/05/2024 với số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).
Tính đến thời điểm ngày 05/3/2025, tổng dư nợ của ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T tại A1 Chi nhánh thị xã Quảng Trị là: 863.371.937 đồng. Trong đó: Gốc: 800.000.000 đồng; lãi trong hạn: 30.943.562 đồng; lãi quá hạn: 31.029.041 đồng; lãi chậm trả: 1.399.334 đồng.
Các khoản vay của bị đơn được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 07112023/HĐTC ngày 07/11/2023 đã ký giữa A1 Chi nhánh thị xã Quảng Trị và ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T, được công chứng tại Văn phòng C ngày 07/11/2023, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh thị xã Q ngày 07/11/2023.
- Chi tiết về tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất trên thửa đất số 215; Tờ bản đồ số 16, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DL420744, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: VP02166, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q cấp ngày 21 tháng 8 năm 2023, địa chỉ tại khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, mang tên ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T.
- Giá trị tài sản bảo đảm: 1.838.165.000 đồng (Một tỷ tám trăm ba mươi tám triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn đồng)
Sau khi giải ngân, A1 Chi nhánh thị xã Q đã nhiều lần gửi thông báo nợ đến hạn, nợ quá hạn, trực tiếp làm việc với bà Hoàng Thị T, ông Ngô Minh H để đôn đốc thu hồi nợ và cũng đã tạo điều kiện cho ông bà tháo gỡ khó khăn nhưng bị đơn vẫn không trả nợ theo thỏa thuận, nên khoản nợ trên của ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 09/8/2024.
A1 Chi nhánh thị xã Q đã nhiều lần yêu cầu ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T bán tài sản thế chấp hoặc bàn giao tài sản thế chấp để A1 tiến hành xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ theo quy định, tuy nhiên phía ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A1, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A1.
Căn cứ các nội dung nêu trên, A1 thông qua A1 Chi nhánh T Quảng Trị, yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- - Buộc ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A1 toàn bộ số tiền gốc và lãi tính đến ngày 05/3/2025 là: 863.371.937 đồng. Trong đó: Tiền gốc là 800.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 30.943.562 đồng; tiền lãi quá hạn là 31.029.041 đồng; tiền lãi chậm trả là 1.399.334 đồng.
- - Buộc ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3909-LAV-202302021 ký kết ngày 07/11/2023 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T trả hết nợ gốc, lãi cho A1.
- - Nếu ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A1 thông qua A1 Chi nhánh thị xã Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 07112023/HĐTC ngày 07/11/2023 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- - Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A1 thì A1 thông qua A1 Chi nhánh thị xã Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T thừa nhận có vay A1 khoản tiền như Ngân hàng đã nêu, nhưng vì lý do cá nhân nên chưa có điều kiện trả nợ, nay bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền theo yêu cầu của nguyên đơn, trường hợp không trả đủ sẽ tạo điều kiện để cơ quan nhà nước xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 118, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- - Ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T phải trả cho Ngân hàng N số tiền còn nợ: 863.371.937 đồng. Trong đó: Tiền gốc: 800.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 30.943.562 đồng; lãi quá hạn: 31.029.041 đồng; lãi chậm trả: 1.399.334 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 3909-LAV-202302021 ký kết ngày 07/11/2023.
- - Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
- - Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn thuận chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn A1 khởi kiện ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T yêu cầu trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo hợp đồng được ký kết và thực hiện thông qua A1, bị đơn ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T có địa chỉ thường trú tại phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Hợp đồng số 3909-LAV-202302021 ngày 07/11/2023 được ký kết giữa A1 và ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật.
Sau khi nhận nợ ngày 08/5/2024 với số tiền 800.000.000 đồng, ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T chưa lần nào trả cho A1 khoản tiền gốc và tiền lãi nào. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên khoản vay của bị đơn đã bị chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 09/8/2024 và A1 đã đơn phương chấm dứt hợp đồng là đúng pháp luật.
Căn cứ Điều 117, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T phải có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ tiền gốc và tiền lãi cho A hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết.
[2.2] Về hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số 3909-LAV-202302021 ngày 07/11/2023, nguyên đơn và bị đơn đã ký hợp đồng thế chấp số 07112023/HĐTC ngày 07/11/2023. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 215; tờ bản đồ số 16, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL420744, vào sổ cấp giấy chứng nhận số VP02166, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q cấp ngày 21 tháng 8 năm 2023, địa chỉ tại khu phố E, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, mang tên ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T. Các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp có hình thức, nội dung, mục đích, quyền và trách nhiệm của các bên (bên nhận thế chấp, bên thế chấp) phù hợp với quy định tại các Điều 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, thể hiện: Thửa đất 215 thuộc quyền sử dụng của ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T, hiện tại không có tranh chấp; trên đất có tài sản là ngôi nhà cấp 4, diện tích xây dựng 141 m2, có kết cấu: Tường gạch, bê tông cốt thép.
Căn cứ Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, trong trường hợp ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, Ngân hàng N có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ. Nếu xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ để trả nợ cho A1 thì ông H và bà T có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán khoản vay.
Tại phiên toà, ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T đồng ý trả nợ cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 05/3/2025 là: 863.371.937 đồng. Trong đó: Tiền gốc: 800.000.000 đồng; lãi trong hạn: 30.943.562 đồng; lãi quá hạn: 31.029.041 đồng; lãi chậm trả: 1.399.334 đồng, bị đơn cũng đồng ý xử lý tài sản thế chấp theo yêu cầu của nguyên đơn, đây là thỏa thuận không trái pháp luật, Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận này của các bên.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn thuận chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn thuận chịu chi phí thẩm định tại chỗ, cụ thể: Tổng chi phí số tiền là 2.448.000 đồng, hiện tại nguyên đơn đã tạm chi phí, nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền đã chi là 2.448.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 118, 119, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Công nhận sự thỏa thuận của của nguyên đơn Ngân hàng N và bị đơn ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T, cụ thể như sau:
- - Ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền còn nợ là: 863.371.937 đồng (Tám trăm sáu mươi ba triệu ba trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng). Trong đó: Tiền gốc là 800.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 30.943.562 đồng; tiền lãi quá hạn là 31.029.041 đồng; tiền lãi chậm trả là 1.399.334 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 3909-LAV-202302021 ngày 07/11/2023 và giấy nhận nợ số 3909LDS202401553 ngày 08/5/2024.
- Kể từ ngày 06/3/2025 cho đến khi trả hết số nợ, tất toán hợp đồng, ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 3909-LAV-202302021 ngày 07/11/2023 và giấy nhận nợ nêu trên.
- - Về xử lý tài sản đảm bảo: Ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T không tự nguyện thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng N, thì Ngân hàng N có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ đối với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 215; tờ bản đồ số 16, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL420744, vào sổ cấp giấy chứng nhận số VP02166, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q cấp ngày 21 tháng 8 năm 2023, địa chỉ tại Khu phố E, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, mang tên ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T, cụ thể thửa đất như sau:
Diện tích sử dụng: 218,5m²; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị 202m²; đất trồng cây lâu năm: 16,5m²; thời hạn sử dụng: Đất ở tại đô thị: Lâu dài, đất trồng cây lâu năm: 10/2023.
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ để trả nợ cho Ngân hàng N thì ông Ngô Minh H, bà Hoàng Thị T có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán khoản vay.
- - Về chi phí tố tụng: Ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 2.448.000 đồng (Hai triệu bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
- Về án phí: Ông Ngô Minh H và bà Hoàng Thị T chịu 37.901.158 đồng (Ba mươi bảy triệu chín trăm linh một nghìn một trăm năm mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 18.456.990 đồng theo biên lai thu tiền số 0000116 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và bị đơn ông Ngô Minh Hiền, bà Hoàng Thị Thảo " tranh chấp hợp đồng tín dụng"
