Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 01 /2025/HS-ST

Ngày 24-01-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH


Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Tư

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai(thủ tục rút gọn) vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST- HS ngày 09-01-2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST- HS ngày 14-01-2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Chu Văn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 11 tháng 7 năm 1997; Quê quán: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Chu Văn C (đã chết); Họ tên mẹ: Chu Thị H, sinh năm 1977; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị A, sinh năm: 1994; Con: 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2016, đứa nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/12/2024, đến ngày 18/12/2024 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay,(có mặt).

  2. Họ tên: Lê Văn H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990; Quê quán: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Lê Văn T, sinh năm: 1966; Họ tên mẹ: Chu Thị T1, sinh năm 1977; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Chu Thị T2, sinh năm: 1991; Con: Có 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 2012, đứa nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/12/2024, đến ngày 18/12/2024 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay,(có mặt).

  3. Họ tên: Chu Khánh H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 6 năm 1991; Quê quán: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay:Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Chu Văn T3, sinh năm 1962; Họ tên mẹ: Chu Thị N, sinh năm 1960; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Bùi Thị N1, sinh năm 1997; Con: Có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2014, đứa nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không

    Quá trình nhân thân:

    • Ngày 07/11/2017, Chu Khánh H2 bị Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 000023/QĐ-XPHC, bằng hình thức: Phạt tiền; đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
    • Ngày 10/6/2019, Chu Khánh H2 bị Công an thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” theo Quyết định số 00000 39/QĐ-XPHC, bằng hình thức: Phạt tiền; đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

    Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/12/2024, đến ngày 18/12/2024 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay, (có mặt).

  4. Họ tên: Chu Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam ; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1986; Quê quán: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Chu Văn H3, sinh năm 1961; Họ tên mẹ: Chu Thị T4, sinh năm 1964; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Kim O; Sinh năm 1986; Con: Có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2008, đứa nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/12/2024, đến ngày 18/12/2024 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay, (có mặt)

  5. Họ tên: Võ Xuân T5; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1991; Quê quán: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng; Họ tên cha: Võ Thanh H4, sinh năm: 1949; Họ tên mẹ: Chu Thị T6, sinh năm 1949; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Võ Thị H5, sinh năm: 1992; Con: Có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2017, đứa nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 16/12/2024, đến ngày 18/12/2024 khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay,(có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Chu Văn L1, sinh năm 1997; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt);
  2. Anh Trương Thanh B1, sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(có mặt);

- Người làm chứng:

  1. Anh Chu Văn H6, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt);
  2. Anh Võ Thanh H7, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt);

- Người chứng kiến:

  1. Ông Chu Văn P, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn A, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh,(vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 05 phút ngày 14/12/2024, trong khi đang ngồi chơi tại nhà anh Trương Thanh B1, ở thôn A H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh thì Chu Văn L rủ Lê Văn H1 và Chu Văn L1 đánh bạc bằng hình thức “T3 lên miền N” thì cả hai đồng ý. Chu Văn L lấy 01 bộ bài T7 lơ khơ có sẵn tại nhà anh Trương Thanh B1 rồi cả ba cùng ngồi lên chiếu ở giữa nền nhà để đánh bạc. Chu Văn L sử dụng số tiền 1.400.000 đồng, Lê Văn H1 sử dụng số tiền 2.700.000 đồng và Chu Văn L1 sử dụng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc. Đánh được khoảng 03 đến 04 ván thì Chu Văn L1 thua hết tiền, nên L, H1 và L1 giải tán việc đánh bạc và ngồi lên bàn uống nước.

Khoảng 15 phút sau, trong khi Chu Văn L, Lê Văn H1 và Chu Văn L1 đang ngồi trên bàn uống nước thì Võ Xuân T5 đến, nên Chu Văn L đã rủ Lê Văn H1 và Võ Xuân T5 đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” thì cả hai đồng ý. Cách thức đánh bạc như sau: Một bộ bài T7 lơ khơ được chia cho mỗi người ba con bài; mỗi ván mỗi người đặt giữa chiếu 50.000 đồng (có thể đặt cược thêm, nhưng tối đa không quá 500.000 đồng). Kết quả người nào có cả ba con bài có các số hoặc chữ như nhau thì gọi là “Sáp”; có các chữ hoặc số liền kề thì gọi là “Liêng”; cả ba con bài đều có hình ảnh thì gọi là “Ảnh”. Sáp thắng Liêng, L2 thắng Ảnh; nếu không có S, L2, Ảnh thì tính điểm của tổng cả ba con bài ở trên tay, ai cao điểm nhất thì thắng và được lấy toàn bộ số tiền giữa chiếu. Chu Văn L, Lê Văn H1 và Võ Xuân T5 đánh bạc được khoảng 30 phút thì Chu Khánh H2 đến cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Chu Khánh H2 thua hết tiền nên về nhà lấy tiền, còn lại Chu Văn L, Lê Văn H1 và Võ Xuân T5 tiếp tục đánh bạc. Một lúc sau thì Chu Văn B đến cùng tham gia đánh bạc với Chu Văn L, Lê Văn H1 và Võ Xuân T5. Do Chu Văn B không mang theo tiền mặt nên đã chuyển khoản cho Lê Văn H1 1.000.000 đồng để đổi lấy tiền mặt từ Lê Văn H1 để đánh bạc (H1 lấy tiền mặt của mình đang đánh bạc đưa cho B). Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, Võ Xuân T5 thua hết tiền nên nghỉ đánh bạc và ngồi xem Chu Văn L, Lê Văn H1 và Chu Văn B tiếp tục đánh bạc. Chu Văn L, Lê Văn H1 và Chu Văn B đánh được khoảng 02 đến 03 ván thì Chu Khánh H2 quay lại và cùng tham gia đánh bạc; đánh được khoảng 30 phút thì Chu Văn B có việc nên nghỉ đánh bạc ra về, còn lại Chu Văn L, Lê Văn H1 và Chu Khánh H2 tiếp tục đánh bạc. Đánh được khoảng 03 đến 04 ván thì Chu Văn B quay lại tiếp tục tham gia đánh bạc. Chu Văn L, Lê Văn H1, Chu Khánh H2 và Chu Văn B đánh bạc đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã K phát hiện bắt quả tang, thu tại chiếu bạc số tiền 8.200.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài và 01 chiếc chiếu nhựa. Thời điểm bắt quả tang, Võ Xuân T5 bỏ chạy, đến ngày 16/12/2024 Võ Xuân T5 đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã K đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.200.000 đồng, trong đó: Chu Văn L 1.400.000 đồng, Lê Văn H1 2.800.000 đồng, Chu Khánh H2 3.500.000 đồng, Chu Văn B 1.000.000 đồng và Võ Xuân T5 500.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã thu giữ các vật chứng bao gồm: Thu tại chiếu bạc 01 bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 8.200.000 đồng tiền mặt và 01 chiếc chiếu nhựa. Các vật chứng nói trên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh chờ xử lý

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS-TXKA ngày 08/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, truy tố Chu Văn L, Lê Văn H1, Chu Khánh H2, Chu Văn B và Võ Xuân T5 ra trước Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh để xét xử về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tuyên bố các bị cáo Chu Văn L, Lê Văn H1, Chu Khánh H2, Chu Văn B và Võ Xuân T5 phạm tội “Đánh bạc”; Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 65, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Chu Văn L; Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn H1, Chu Khánh H2; Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Chu Văn B; Áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Võ Xuân T5

  • Xử phạt Chu Văn L mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng;
  • Xử phạt Lê Văn H1, Chu Khánh H2 mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ(được trừ 03 ngày tạm giữ quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án; Phạt tiền bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng;
  • Xử phạt Chu Văn B số tiền từ 35.000.000₫ – 40.000.000đồng.
  • Xử phạt Võ Xuân T5 số tiền từ 30.000.000₫ – 35.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền ngân hàng N2 đồng 8.200.000đ(Tám triệu, hai trăm ngàn đồng); Truy thu tại Lê Văn H1 số tiền 1000.000đ(một triệu đồng) tịch thu tiêu hủy 01(một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt và tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo tại địa phương để có điều kiện sữa chữa lỗi lầm đã gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa các bị cáo Chu Văn L, Chu Khánh H2, Lê Văn H1, Chu Văn B, Võ Xuân T5 đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung quyết định truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Từ 20 giờ 20 phút ngày 14/12/2024 đến 00 giò 30 phút ngày 15/12/2024, tại nhà anh Trương Thanh B1, ở thôn A H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Chu Văn L, Lê Văn H1, Chu Khánh H2, Chu Văn B và Võ Xuân T5 đánh bạc bằng hình thức “Đánh liêng” số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.200.000 đồng, trong đó: Chu Văn L 1.400.000 đồng, Lê Văn H1 2.800.000 đồng, Chu Khánh H2 3.500.000 đồng, Chu Văn B 1.000.000 đồng và Võ Xuân T5 500.000 đồng.

Hành vi đánh đánh bạc bằng hình thức “Đánh liêng” với tổng số tiền 9.200.000 đồng của các bị cáo Chu Văn L, Lê Văn H1, Chu Khánh H2, Chu Văn B và Võ Xuân T5 đã phạm Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là hoàn tòa có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tính chất đồng phạm trong vụ án là giản đơn, trong đó Chu Văn L vừa khởi xướng vừa thực hành, Lê Văn H1, Chu Khánh H2, Chu Văn B, Võ Xuân T5 tham gia với vai trò đồng thực hành.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội. Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ. Bị cáo Chu Văn L là người khởi xướng nên giữ vai trò chính trong vụ án, sử dụng số tiền đánh bạc 1.400.000 đồng, vai trò tiếp theo lần lượt là Chu Khánh H2 sử dụng số tiền đánh bạc 3.500.000đồng, Lê Văn H1 sử dụng số tiền đánh bạc 2.800.000đồng, Chu Văn B sử dụng số tiền đánh bạc là 1.000.000đồng, Võ Xuân T5 sử dụng số tiền đánh bạc là 500.000đồng. Việc truy tố, xét xử các bị cáo về hình sự là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Song xét các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo Võ Xuân T5 còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ Đầu thú, theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền từng bị cáo dùng để đánh bạc ít, có nơi cư trú rõ ràng, xét mức độ phạm tội của từng bị cáo nên áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Chu Văn L, áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với Chu Khánh H2, Lê Văn H1, áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với Chu Văn B, Võ Xuân T5, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Các bị cáo Chu Khánh H2 và Lê Văn H1 nghề nghiệp là lao động tự do, kể từ khi thực hiện hành vi phạm tội đến nay không có việc làm, chưa có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng, gia đình hoàn cảnh khó khăn, nên xét thấy không buộc phải thực hiện nghĩa vụ khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ Nhà Nước nhưng bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng tại địa phương trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Đối với Chu Văn L1 là người tham gia đánh bạc bằng hình thức “T3 lên miền N” với Chu Văn L và Lê Văn H1, do việc đánh bạc đã kết thúc và tổng số tiền đánh bạc 4.200.000 đồng (dưới 5.000.000 đồng), hành vi không cấu thành tội phạm, UBND thị xã K đã xử phạt hành chính (phạt tiền 1.500.000₫) nên không xem xét.

Đối với anh Trương Thanh B1, quá trình các bị cáo đánh bạc tại nhà mình thì anh Trương Thanh B1 đang ngủ, không biết các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4].Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả tính răn đe giáo dục các bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối bị cáo Chu Văn L, Chu Khánh H2, Lê Văn H1 mỗi bị cáo từ 10.000.000đồng – 15.000.00đồng.

[5]. Về vật chứng:

  • Đối với số tiền ngân hàng N2 đồng 8.200.000đ(Tám triệu,hai trăm ngàn đồng) các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.
  • Đối với số tiền ngân hàng N2 đồng 1.000.000đ(Một triệu đồng), Chu Văn B chuyển khoản cho Lê Văn H1 để lấy tiền mặt dùng để đánh bạc cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tại Lê Văn H1 nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01(một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài đã qua sử dụng và 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Tuyên bố bị cáo Chu Văn L, Chu Khánh H2, Lê Văn H1, Chu Văn B, Võ Xuân T5 phải nộp án phí theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58,Điều 38, Điều 65, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Chu Văn L;

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36, khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Lê Văn H1, Chu Khánh H2;

Căn cứ khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Chu Văn B;

Căn cứ khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Võ Xuân T5;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q;

Tuyên xử:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn L, Chu Khánh H2, Lê Văn H1, Chu Văn B, Võ Xuân T5 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt Chu Văn L 08 (tám) tháng tù, cho hưởng treo thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày truyên án sơ thẩm là ngày 20/01/2025.

Giao bị cáo Chu Văn L cho Ủy ban nhân dân xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú hoặc vắng mặt tại nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách được thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Chu Văn L 10.000.000đ(Mười triệu đồng).

2.2. Xử phạt Chu Khánh H2 17 (mười bảy) tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 03 ngày tạm giữ quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ), còn phải chấp hành 16 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Buộc bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ một số công việc lao động phục vụ công cộng tại địa phương trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ công cộng tại địa phương không quá 04(Bốn) giờ trong một ngày và không quá 05(Năm) ngày trong 01(Một) tuần.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Chu Khánh H2 10.000.000đ(Mười triệu đồng).

2.3. Xử phạt Lê Văn H1 16 (mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 03 ngày tạm giữ quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ), còn phải chấp hành 15 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Buộc bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ một số công việc lao động phục vụ công cộng tại địa phương trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ công cộng tại địa phương không quá 04(Bốn) giờ trong một ngày và không quá 05(Năm) ngày trong 01(Một) tuần.

Phạt tiền bổ sung bị cáo Lê Văn H1 10.000.000đ(Mười triệu đồng).

Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo Chu Khánh H2 và bị cáo Lê Văn H1. Giao bị cáo Chu Khánh H2 và Lê Văn H1 cho UBND xã K, thị xã K giám sát, giáo dục, gia đình các bị cáo phải có trách nhiệm phối hợp với UBND xã K trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

2.4. Xử phạt Chu Văn B số tiền 35.000.000đ(Ba mươi lăm triệu đồng).

2.5. Xử phạt Võ Xuân T5 số tiền 30.000.000đ(Ba mươi triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Tiền ngân hàng N2 đồng 8.200.000đ(Tám triệu,hai trăm ngàn đồng), số tiền này đã được Công an thị xã K nộp vào tài khoản tạm giữ của Chi cục THADS thị xã K theo Ủy nhiệm chi tại Kho bạc Nhà nước.
  • Tịch thu tại Lê Văn H1 số tiền 1.000.000đ(một triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01(một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài và 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng.

    (Tình trạng các vật chứng trên có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-01-2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã K)

4. Về án phí: Xử buộc các bị cáo Chu Văn L, Chu Khánh H2, Lê Văn H1, Chu Văn B, Võ Xuân T5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND thị xã Kỳ Anh;
  • - Công an thị xã Kỳ Anh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - UBND xã Kỳ Lợi, TX Kỳ Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HS; VP-TA;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đinh Văn Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01 /2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 01 /2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 01
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger