Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 1 - THANH HÓA

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HS-ST

Ngày: 15/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Luận
  2. Bà Mai Thị Tiếp

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ - Kiểm sát viên

Ngày 15/10/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025; quyết định hoãn phiên toà số: 26/2025/QĐ-HS ngày 08/9/2025; số: 38/2025/QĐ-HS ngày 30/9/2025, đối với bị cáo:

Lê Văn A, sinh năm 1997 tại Thanh Hoá; nơi cư trú: Phố P, thị trấn B, huyện H (nay là phố P, xã H), tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; Con ông: Lê Văn H và bà: Hoàng Thị H1; vợ: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 19/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Lâm Đồng) xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 25/9/2025 bị Toà án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; bị cáo đang bị tạm trong vụ án khác tại trại giam S Công an H2, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty TNHH L1.

Địa chỉ: Số B T, phường H, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy T – Giám đốc(vắng).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1989(vắng).
  2. Địa chỉ: Số D N, phường H, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (vắng).
  4. Địa chỉ: Số I H, phường H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/4/2025, Công ty TNHH L1, địa chỉ tại số B, phố T, phường T, thành phố T (nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa) đặt mua của Công ty TNHH M, địa chỉ tại số B phố Y, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội 05 (Năm) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu bạc, mẫu Inspiron 153520 (N515052 W1-SILVER); I, 15,6 “FHD, 2x8G, 512 GB SD, 3 Cell-41 Whr, W, Office H&S 2021 chưa qua sử dụng và đã thanh toán đầy đủ cho Công ty TNHH M theo Phiếu xuất bán hàng ngày 11/4/2025. Chiều ngày 12/4/2025, anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989, trú tại I H, phường L, thành phố T (nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa) là chủ nhà xe Mạnh Vi chuyên nhận vận chuyển hàng hóa từ Hà Nội về Thanh Hóa tiếp nhận đơn hàng trên vận chuyển về tập kết tại nhà kho của Công ty X địa chỉ tại Lô C đường Đ, khu công nghiệp T, phường Đ, thành phố T (nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa) để giao cho Công ty TNHH L1.

Rạng sáng ngày 13/4/2025, Lê Văn A là nhân viên cũ của nhà xe M1 (đã nghỉ việc từ cuối tháng 3/2025), đã biết được quy luật hoạt động, cách thức quản lý tài sản và biết chìa khoá cửa kho thường cất tại dưới ray cửa. Do cần tiền tiêu xài, Anh nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đã đột nhập vào khu vực, biết có camera an ninh nên A lấy một tấm vải mỏng dùng để lót hàng ở gần cửa kho để che phần đầu, mặt của mình để tránh bị phát hiện, rồi lấy chìa khoá ở ray cửa mở khóa cửa đi vào trong kho lấy trộm 03 (Ba) chiếc máy tính xách tay như trên.

Sau khi trộm cắp được tài sản, sáng 13/4/2025, Lê Văn A đem đến cửa hàng điện thoại tại D N, phường P, thành phố T (nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa) bán cho anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1989 (là chủ cửa hàng) 01 chiếc máy tính xách tay. Khi bán, A nói với anh T1 chiếc máy tính của mình, chưa qua sử dụng nên anh T1 tin tưởng đồng ý mua với giá 8.000.000đ (Tám triệu đồng). Hai chiếc máy tính còn lại, A đem bán ở hai địa điểm khác nhau nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Lê Văn A bỏ trốn khỏi địa phương và tiêu xài hết số tiền bán tài sản trộm cắp mà có. Ngày 24/5/2025, Lê Văn A tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tại phường M, Quận H, Thành phố Hà Nội đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H2 khởi tố và bắt tạm giam bị can về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Ngày 26/5/2025 Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố T có Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 40.050.000đ (Bốn mươi triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra vụ án, Lê Văn A thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Anh Nguyễn Hữu T1 tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu bạc, mẫu Inspiron 153520 (N515052 W1-SILVER); I, 15,6 “FHD, 2x8G, 512 GB SD, 3 Cell-41 Whr, W, Office H&S 2021 chưa qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn L;

Về phần dân sự:

Đối với tài sản bị trộm cắp thuộc sở hữu của Công ty TNHH L1, người đại diện theo pháp luật là anh Nguyễn Huy T, chức vụ: Giám đốc đã mua và thanh toán tiền cho Công ty TNHH M. Ngày 16/4/2025, đã nhận số tiền 40.050.000đ (Bốn mươi triệu, năm mươi nghìn đồng) của nhà xe M1 bồi thường 03 máy tính xách tay nên không yêu cầu về phần dân sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L yêu cầu Lê Văn A trả số tiền 26.700.000đ (Hai mươi sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng) tương ứng với giá trị của 02 chiếc máy tính xách tay bị mất; anh Nguyễn Hữu T1 yêu cầu Lê Văn A trả số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là số tiền mua máy tính của A.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT – VKSKV1 ngày 12/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hoá đã truy tố Lê Văn A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 21 - 27 tháng tù.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Rạng sáng ngày 13/4/2025, Lê Văn A đã đột nhập vào kho chứa hàng của nhà xe M1 ở Lô C đường Đ, khu công nghiệp T, phường Đ, thành phố T (nay là phường H, tỉnh Thanh Hóa) chiếm đoạt 03 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, màu bạc, mẫu Inspiron 153520 (N515052 W1-SILVER); I, 15,6 “FHD, 2x8G, 512 GB SD, 3 Cell-41 Whr, W, Office H&S 2021 chưa qua sử dụng của Công ty TNHH L1, tổng giá trị tài sản là: 40.050.000 đồng.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Lê Văn A có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND khu vực 1 - Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt một cách nhanh nhất rồi mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đây là vụ án ít nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này bị cáo tiếp tục phạm tội và bị TAND khu vực 6 - Hà Nội xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (bản án chưa có hiệu lực pháp luật). Điều đó cho thấy bị cáo coi thường pháp luật, muốn hưởng thụ nhưng không chịu lao động. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[4] Về phần dân sự:

- Theo báo cáo của đại diện hợp pháp của bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt nhà xe M2 đã bồi thường số tiền 40.050.000 đồng, đại diện Công ty TNHH L1 đã nhận đủ và không yêu cầu gì thêm. Do đó cần công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

- Sau khi trộm cắp tài sản Lê Văn A đã bán 01 chiếc máy tính cho Nguyễn Hữu T1 lấy 8.000.000 đồng, anh T1 đã tự giác giao nộp lại 01 chiếc máy tính này cho cơ quan điều tra để trả lại cho anh Nguyễn Văn L. Còn 02 chiếc máy tính còn lại, A đem bán ở hai địa điểm khác nhau nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không thu hồi được. Do đó người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L yêu cầu Lê Văn A trả số tiền 26.700.000đ (Hai mươi sáu triệu, bảy trăm nghìn đồng) tương ứng với giá trị của 02 chiếc máy tính xách tay bị mất; anh Nguyễn Hữu T1 yêu cầu Lê Văn A trả số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là số tiền mua máy tính của A. Xét yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở nên buộc Lê Văn A phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Văn L số tiền 26.700.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T1 số tiền 8.000.000 đồng.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST và án phí DSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 584; 585; 589 Bộ luật Dân sự; điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Văn A 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về dân sự:

- Công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

- Buộc Lê Văn A phải bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên qua anh Nguyễn Văn L số tiền 26.700.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T1 số tiền 8.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có có hiệu lực pháp luật, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành, nếu bị cáo không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 BLDS.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.735.000 đồng án phí dân sự.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND khu vực 1 – Thanh Hoá;
  • - Văn phòng điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - VP 06 Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hào

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSNDTPTH;
  • - Công an TPTH;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TPTH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 15/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 01/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger