|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA Bản án số: 01/2025/HS-ST Ngày 14 tháng 11 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Văn Sơ
Ông Bùi Nguyên Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lường Văn K. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1994 tại xã M, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Đảng viên Đ (Đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 55 ngày 25/7/2025 của Đảng ủy xã M). Con ông: Lường Văn T, sinh năm 1968 và bà Lò Thị S; Sinh năm 1970. Bị cáo có vợ là Bàn Thị N, có 02 con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bàn Thị N, sinh năm 1997. Địa chỉ: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/7/2025, Lường Văn K điều khiển xe mô tô (loại xe thồ) đến bản S, xã C để sửa xe. Trên đường đi, K gặp một người đàn ông tên tự giới thiệu tên M (không biết địa chỉ, họ tên đầy đủ) có Heroine để bán. K điều khiển xe mô tô đến quán S2 tại bản S, xã C, tỉnh Sơn La để sửa xe và vay Sen 300.000VNĐ. Sau đó, K đi bộ theo hướng xã C đến xã M, tỉnh Sơn La khoảng 300m thì thấy M điều khiển xe mô tô đi lại gần, K hỏi mua 300.000VNĐ Heroine, M bảo K đứng đợi. Khoảng 30 phút sau, M quay lại và thả một bao thuốc lá hiệu Thăng Long ở lề đường cách Khoa khoảng 02m rồi bỏ đi, K đến nhặt vỏ bao thuốc lá rồi đi bộ khoảng 02m thì bị Tổ công tác Công an xã C phát hiện, K thả ma túy xuống đường và bỏ chạy khoảng 20m thì bị Công an khống chế. K đã khai số ma túy trong vỏ bao thuốc lá là của mình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác Công an xã C đã lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long, vỏ màu vàng; 01 gói giấy bạc bên trong chứa 01 gói được gói bằng 02 lớp nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột nén màu trắng.
Ngày 09/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S phối hợp với Phòng K1 Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn K; trích rút mẫu để giám định: 01 gói giấy bạc bên trong có 01 gói được gói bằng 02 lớp nilon màu xanh chứa chất bột nén màu trắng có khối lượng là 0,21 gam lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M cho vào 01 túi nilon màu trắng gửi giám định chất ma tuý.
Tại kết luận giám định số 773 ngày 14/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:
“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,21 gam; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV4 ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La đã truy tố bị cáo Lường Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bị cáo Lường Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lường Văn K từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Bưu điện V phát hành được niêm phong theo quy định (số A), trong chứa mảnh giấy bạc và 02 mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng long màu vàng.
Trả lại cho chị Bàn Thị N và bị cáo Lường Văn K 01 xe máy (kiểu xe thồ), không gắn biển kiểm soát, số máy 004108, số khung đã bị gỉ sét không rõ số, xe không có ốp nhựa xung quanh, không có đèn pha, không có tốc độ, không có chìa khóa xe, yên bị rách, đã qua sử dụng cũ.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: bị cáo Lường Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
- Bị cáo giữ nguyên các lời khai trong quá trình điều tra, nhất trí nội dung luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận ngày 09/7/2025, tại bản S, xã C, tỉnh Sơn La, bị cáo Lường Văn K bị tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ: 0,21 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, không phát sinh tình tiết mới.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 09/7/2025 kết luận: bị cáo Lường Văn K dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Loại chất: MOP. Bị cáo khai nhận ngày 06/7/2025 có sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/9/2025, Công an xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ kết quả điều tra về nhân thân của bị cáo xác định việc xử phạt trên là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực, gia đình.
Như vậy, Cáo trạng số 01/CT-VKSMS ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La là có căn cứ, đủ căn cứ kết luận bị cáo Lường Văn K đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Xét về tính chất:
Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển và lưu hành trái phép trên thị trường nhưng bị cáo đã cố tình mua, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng.
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm phần nào nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với tính chất và tương xứng với khối lượng ma túy bị cáo bị thu giữ, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh, bị cáo sống cùng với gia đình, bản thân không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét xử phạt bổ sung đối với bị cáo Lường Văn K.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì do Bưu điện V phát hành được niêm phong theo quy định (số A), trong chứa mảnh giấy bạc và 02 mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng long màu vàng. Xét thấy đây là vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 xe máy (kiểu xe thồ), cũ đã qua sử dụng, không gắn biển kiểm soát, số máy 004108, số khung đã bị gỉ sét không rõ số, không có ốp nhựa xung quanh. Quá trình điều tra và kiểm tra tại phiên tòa xác định chiếc xe là tài sản chung của bị cáo Lường Văn K và vợ là Bàn Thị N. Chiếc xe không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe cho đại diện gia đình chị Bàn Thị N theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy, Lường Văn K khai mua của đàn ông tên M (không biết địa chỉ, họ tên đầy đủ) tại khu vực bản S, xã C, tỉnh Sơn La với giá 300.000VNĐ. Quá trình điều tra, tra cứu phần mềm dân cư trên toàn địa bàn xã C, tỉnh Sơn La không có đối tượng nào tên M như K mô tả, việc mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
Đối với Vì Văn S1, sinh năm 1996, trú tại bản S, xã C, tỉnh Sơn La cho vay Lường Văn K số tiền 300.000 VNĐ, quá trình điều tra xác minh Vì Văn S1 không biết việc Lường Văn K vay tiền để đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Vì Văn S1. Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Lường Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lường Văn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 09/7/2025).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Bưu điện V phát hành được niêm phong theo quy định (số A), trong chứa mảnh giấy bạc và 02 mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng long màu vàng.
Trả lại cho chị Bàn Thị N và bị cáo Lường Văn K 01 xe máy (kiểu xe thồ), không gắn biển kiểm soát, số máy 004108, số khung đã bị gỉ sét không rõ số, xe không có ốp nhựa xung quanh, không có đèn pha, không có tốc độ, không có chìa khóa xe, yên bị rách, đã qua sử dụng cũ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/BB-CCTHADS giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lường Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
- Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tráng A Tếnh |
Bản án số 01/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 01/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên Lường Văn K phạm tội
