Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25/11/2025

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phúc Hiếu.

2. Ông Trần Gia Phượng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu A, xã L, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Trần Văn G, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Khu A, xã L, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh T - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Quang T1 - Công chức chuyên viên Văn phòng HĐND & UBND xã L

(Bà D, ông G, ông T1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày: Chị và anh Trần Văn G có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 10/9/2004 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Tại thời điểm đăng ký kết hôn do chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chị đã khai tăng tuổi là sinh ngày 20/4/1987 để đủ tuổi kết hôn và đăng ký kết hôn. Khi đi làm thủ tục đăng ký kết hôn chị và anh G không phải mang theo bất cứ giấy tờ nào mà chỉ cần đến UBND xã T (cũ) khai, sau đó cán bộ UBND xã cho chị và anh G ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Thực tế toàn bộ giấy tờ tùy thân của chị như giấy chứng minh nhân dân và nay là căn cước công dân đều thể hiện chị sinh ngày 15/6/1988. Từ sau khi kết hôn vợ chồng ở riêng tại Khu A, xã T cũ nay là xã L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2022 thì sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay chị đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị với anh G và xin được ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Văn L, sinh ngày 11/5/2004; Trần Văn T2, sinh ngày 05/8/2007 và Trần Văn T3, sinh ngày 23/7/2013. Hiện cháu L và cháu T2 đã thành niên, lao động tự túc được nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Nếu ly hôn chị xin được nuôi cháu T3 và không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Trần Văn G trình bày: Anh và chị Trần Thị D có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 10/9/2004 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Tại thời điểm đăng ký kết hôn do chị D chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên chị đã khai tăng tuổi là sinh ngày 20/4/1987 để đủ tuổi kết hôn và đăng ký kết hôn. Khi đi làm thủ tục đăng ký kết hôn anh và chị D không phải mang theo bất cứ giấy tờ nào mà chỉ cần đến UBND xã T (cũ) khai, sau đó cán bộ UBND xã cho anh chị ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Thực tế chị D sinh ngày 15/6/1988. Từ sau khi kết hôn vợ chồng ở riêng tại Khu A, xã T cũ nay là xã L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, từ năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay anh đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị và giải quyết cho anh chị được ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Văn L, sinh ngày 11/5/2004; Trần Văn T2, sinh ngày 05/8/2007 và Trần Văn T3, sinh ngày 23/7/2013. Hiện cháu L và cháu T2 đã thành niên, lao động tự túc được nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Nếu ly hôn anh đồng ý để cho chị D nuôi cháu T3 và sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung nếu chị D yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện UBND xã L, tỉnh Phú Thọ trình bày:

Qua kiểm tra hồ sơ gốc đăng ký kết hôn năm 2004 của UBND xã T (cũ) hiện đang lưu trữ tại UBND xã L ngày 13/9/2004 UBND xã T (cũ) thực hiện việc đăng ký kết hôn cho chị Trần Thị D và anh Trần Văn G. Tại mục ngày tháng năm sinh của chị Trần Thị D có ghi chị D sinh ngày 20/4/1987 (có sự sửa chữa thành 1988). Qua kiểm tra hệ thống hồ sơ hộ tịch điện tử thể hiện UBND xã T (cũ) đăng ký kết hôn cho chị Trần Thị D và anh Trần Văn G ngày 13/9/2004. Tại mục ngày tháng năm sinh của chị Trần Thị D có ghi chị D sinh ngày 15/6/1988. Thời điểm chị D và anh G đăng ký kết hôn tại UBND xã T (cũ) thì Ủy ban có kiểm tra các giấy tờ nhân thân của anh chị để xác định anh chị có đủ tuổi kết hôn hay không thì hiện nay UBND xã L không rõ vì cán bộ tư pháp thời điểm đó hiện đã nghỉ chế độ. Đối với Giấy chứng nhận kết hôn bản chính do chị Trần Thị D cung cấp cho Tòa án thể hiện chị Trần Thị D và anh Trần Văn G đăng ký kết hôn ngày 10/9/2004 có sự sai lệch về ngày đăng ký so với sổ đăng ký kết hôn hiện đang được lưu trữ tại UBND xã L thì hiện nay UBND xã L cũng không rõ vì cán bộ tư pháp thời điểm đó hiện đã nghỉ chế độ. Do đó, quan điểm hiện nay của UBND xã là nếu chị Trần Thị D và anh Trần Văn G thuộc trường hợp đăng ký kết hôn trái pháp luật thì một trong hai anh chị có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 25/11/2025:

Nguyên đơn chị Trần Thị D, bị đơn anh Trần Văn G, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã L do ông Tạ Quang T1 là đại diện theo ủy quyền đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt chị D, anh G, ông T1 vẫn giữ nguyên quan điểm tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ phát biểu ý kiến: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết giải quyết vụ án:

- Đề nghị HĐXX xử căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình và điểm c khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Trần Thị D được ly hôn với anh Trần Văn G.

- Về con chung: Tại thời điểm giải quyết vụ án cháu Trần Văn L, sinh ngày 11/5/2004 và cháu Trần Văn T2, sinh ngày 05/8/2007 đã thành niên, chị Trần Thị D và anh Trần Văn G đều không đề nghị Tòa án giải quyết do vậy không đặt ra xem xét. Đề nghị HĐXX giao cháu Trần Văn T3, sinh ngày 23/7/2013 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D do chị D không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị D và anh G đều không đề nghị Tòa án giải quyết do vậy không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là anh Trần Văn G có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khu A, xã L, tỉnh Phú Thọ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.

- Quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn không thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Trần Văn G kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Căn cứ vào các giấy tờ nhân thân của chị D thì tại thời điểm anh chị đăng ký kết hôn, chị D chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 1. N từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên.........”. Nhưng thời điểm chị D kết hôn với anh G thì chị D mới được 16 tuổi 02 tháng 26 ngày. Quá trình giải quyết vụ án chị D trình bày khi anh chị làm thủ tục đăng ký kết hôn, anh chị không phải xuất trình các giấy tờ nhân thân để xác định tuổi kết hôn do Cơ quan đăng ký kết hôn không yêu cầu và anh chị cũng không hiểu biết quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, việc kết hôn giữa chị D và anh G được xác định là trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, sau khi đăng ký kết hôn anh chị về chung sống cùng nhau hòa thuận, hạnh phúc; từ năm 2022 anh chị mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Theo chị D và anh G nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Quá trình giải quyết vụ án, cả chị D và anh G đều đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của anh chị và đề nghị giải quyết cho ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 4 của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì:

“2. Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

a. ...

b. ...

c. Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn...”

Như vậy, mặc dù tại thời điểm đăng ký kết hôn chị D chưa đủ tuổi kết hôn nhưng sau đó khi đủ tuổi kết hôn anh chị vẫn chung sống hòa thuận, hạnh phúc cùng nhau và đến thời điểm hiện nay cả hai anh chị đều đề nghị giải Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, căn cứ vào quy định của pháp luật nêu trên cần xử cho anh chị ly hôn.

- Về con chung: Chị Trần Thị D và anh Trần Văn G đều xác nhận vợ chồng có ba con chung là Trần Văn L, sinh ngày 11/5/2004; Trần Văn T2, sinh ngày 05/8/2007 và Trần Văn T3, sinh ngày 23/7/2013. Hiện cháu L và cháu T2 đã thành niên nên chị D và anh G đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với cháu T3 hai anh chị thống nhất giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Tại Bản tự khai của cháu T3, cháu T3 cũng có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với mẹ. Do đó, cần giao cháu T3 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và anh G không phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị D và anh G đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.

[3] Về án phí:

Chị Trần Thị D phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1, 3 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về TVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị D ly hôn anh Trần Văn G.
  2. Về con chung: Giao con chung là Trần Văn T3, sinh ngày 23/7/2013 cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi thành niên. Anh Trần Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D do chị D không yêu cầu.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  2. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002990 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị D đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 2 - Phú Thọ;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hà Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger