|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2025 V/v: “tranh chấp về ly hôn và con chung" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đồng, bà Phạm Thị Hạnh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 04/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “tranh chấp về ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bá Y, sinh năm 2001; trú tại thôn C, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1999; trú tại thôn C, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bá Y trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn L kết hôn vào năm 2019. Trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã N, thị xã C). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Nguyễn Như Q, sinh ngày 17/11/2018 và cháu Trần Nguyễn Phúc N, sinh ngày 16/8/2020. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Như Q; đồng ý để anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Phúc N. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn là anh Trần Văn L trình bày:
Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị Nguyễn Thị Bá Y trình bày là đúng. Nay chị Nguyễn Thị Bá Y khởi kiện xin ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị Y trình bày là đúng. Ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Phúc N; đồng ý để chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Như Q. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải nhưng do anh L vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bá Y và bị đơn anh Trần Văn L đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bá Y được ly hôn anh Trần Văn L.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bá Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Nguyễn Như Q, sinh ngày 17/11/2018; giao cho anh Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Nguyễn Phúc N, sinh ngày 16/8/2020.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y, anh L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y, anh L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bá Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bá Y cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã C. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Chũ đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Y; bị đơn là anh L đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Y, anh L theo quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bá Y và anh Trần Văn L có đăng ký kết hôn vào ngày 21/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND xã N, thị xã C). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Y, anh L là hợp pháp.
Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị Nguyễn Thị Bá Y và anh Trần Văn L đều xác định vợ chồng có sảy ra nhiều mâu và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã có khoảng thời gian dài sống ly thân và không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau.
Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bá Y và ý kiến của anh Trần Văn L đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc; không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chị Nguyễn Thị Bá Y và anh Trần Văn L đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 đến nay; không quan tâm, chăm sóc gì cho nhau. Việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bá Y đối với anh Trần Văn L.
[6] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bá Y và anh Trần Văn L có 02 con chung là Trần Nguyễn Như Q, sinh ngày 17/11/2018 và Trần Nguyễn Phúc N, sinh ngày 16/8/2020. Ly hôn chị Y và anh L đều thống nhất để chị Y nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Như Q; anh L nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Phúc N. Do vậy, cần giao cháu Trần Nguyễn Như Q cho chị Nguyễn Thị Bá Y trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Trần Nguyễn Phúc N cho anh Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của các đương sự là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y, anh L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Y, anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị Y, anh L thực hiện quyền này.
Chị Y, anh L có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Y, anh L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bá Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bá Y được ly hôn anh Trần Văn L.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bá Y trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Nguyễn Như Q, sinh ngày 17/11/2018; giao cho anh Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Nguyễn Phúc N, sinh ngày 16/8/2020.
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Bá Y và anh Trần Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở chị Y, anh L thực hiện quyền này.
Chị Y, anh L có quyền làm đơn đề nghị giải quyết vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bá Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006365 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Nguyễn Thị Bá Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Sang |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về ly hôn và con chung
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: âf
