Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/01/2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Xuân Ninh .

Ông Đinh Duy Quyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 106/2021/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Ông Trần Xuân Đ, sinh năm 1969; Nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Xuân Đ: Luật sư Bùi Văn T - Văn phòng L5; Địa chỉ: số D, ngõ B, đường T, phố K, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Xuân C, sinh năm 1963; nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

+ Bà Lã Thị D, sinh năm: 1938; Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

+ Bà Trần Thị Q, sinh năm: 1960; Địa chỉ: phố T, thị trấn M, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

+ Bà Trần Thị L, sinh năm: 1971; Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

+ Vợ chồng ông Nguyễn Cao T1 và bà Nguyễn Thị Thu T2; nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt bà Nguyễn Thị H, ông Trần Xuân Đ, bà Trần Thị Q. Luật sư Bùi Văn T, cụ Lã Thị D, ông Trần Xuân C, bà Trần Thị L, anh Nguyễn Cao T1, chị Nguyễn Thị Thu T2 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Trần Xuân Đ được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/9/1993 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ ông Đ ở thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình được một thời gian sau đó đến cuối năm 1993 thì vợ chồng ông bà ra ở riêng. Hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 19 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi cọ nhau, vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 10 năm 2010. Đến tháng 06/2012 bà đi vào nam làm ăn nhưng do sức khỏe yếu nên được khoảng 3 tháng thì bà lại về Hà Nội để làm. Đến cuối năm 2013 bà có về nhà sinh sống ở thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên do mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nên bà và ông Đ đã sống ly thân nhau. Hai vợ chồng mặc dù sống cùng nhà nhưng không trò chuyện hay quan tâm gì đến nhau. Đến năm 2016 khi mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn thì bà và ông Đ đã sống ly thân hoàn toàn, không chung sống và không có liên hệ gì với nhau hết. Hiện nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hòa giải hàn gắn được. Nên bà làm đơn đề nghị tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Xuân Đ.

Về con chung: Bà và ông Đ có hai con chung; con lớn tên là Trần Xuân L1, sinh ngày 03/4/1994; con bé tên là Trần Xuân L2, sinh ngày: 20/10/1998. Hiện nay, các con đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự lao động để tạo lập cuộc sống nên bà không có yêu cầu đề nghị gì về con chung. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H trình bày quá trình nuôi con bà luôn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trông nom chăm sóc các con, đóng góp nuôi con nhưng bản thân ông Đ ngăn cản, không cho bà thực hiện. Nay bà tự nguyện hỗ trợ cho ông Đ số tiền là 50.000.000 đồng để bù đắp vào tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà và ông Trần Xuân Đ có những tài sản chung sau:

- 01 mảnh đất thửa số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Trên đất có một nhà cấp 4 ba gian. Đây là đất mà bố mẹ chồng bà cho vào cuối năm 1993.

- 01 mảnh đất thửa số 228, tờ bản đồ số 21, diện tích 50 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nguồn gốc đất là do hai vợ chồng mua.

Ngoài hai mảnh đất trên thì ông bà không có tài sản chung gì khác nữa.

Theo đơn khởi kiện bà đề nghị Tòa án chia cho bà và ông Đ mỗi người một mảnh đất. Đến ngày 02/02/2024 bà có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung là thửa số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; chỉ đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung là 01 mảnh đất thửa số 228, tờ bản đồ số 21, diện tích 50 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Nguyên đơn đề nghị được nhận tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất trên và sẽ thanh toán chênh lệch tài sản cho bị đơn, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết phân chia số tiền thu được do bị đơn cho thuê mảnh đất trên từ năm 2016 đến nay.

Trường hợp nếu bà được giao quyền sử dụng thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21, diện tích 50 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G thì bà đồng ý để cho ông T1 được tiếp tục sử dụng đất cho đến hết thời hạn theo thoả thuận thuê đất với ông Đ là ngày 01/01/2026.

Về công nợ chung: Bà xác định ông bà không có công nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Trần Xuân Đ là bị đơn trình bày:

ông xác định thời gian kết hôn và quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng như bà H trình bày là hoàn toàn đúng. Ông và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 16/9/1993 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ của ông ở thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình được một thời gian sau đó đến cuối năm 1993 thì vợ chồng ông ra ở riêng. Hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 17 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi cọ nhau. Từ năm 2010, do thời gian đã lâu nên ông không nhớ chính xác thời gian nào, cho đến nay ông bà đã sống ly thân nhau cả hai không trò chuyện, liên hệ hay quan tâm gì cho đến nay. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên ông đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà H có hai con chung, con lớn tên là Trần Xuân L1, sinh ngày 03/4/1994; con bé tên là Trần Xuân L2, sinh năm: 20/10/1998, một mình ông nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung của vợ chồng từ năm 2010 đến khi các cháu học xong đại học. Hiện nay, các cháu đã đủ 18 tuổi như phần trình bày của bà H nhưng ông vẫn đề nghị Tòa án xem xét công sức nuôi dưỡng của ông trong thời gian các cháu còn đi học theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: ông xác định quyền sử dụng đất thửa số 228, tờ bản đồ số 21, diện tích 50 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình là tài sản chung của vợ chồng, nguồn gốc đất là do hai vợ chồng mua đấu giá từ khoảng năm 2005, hiện nay mảnh đất này ông đã cho anh Nguyễn Cao T1 tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình thuê với thời hạn 10 năm từ 01/01/2016 đến 01/01/2026 với giá thuê 3.500.000 đồng/ tháng, miễn tiền thuê hai năm đầu tiên, trả tiền 1 lần với tổng số tiền là 336.000.000 đồng, toàn bộ số tiền này ông đã nhận của vợ chồng ông T1; toàn bộ số tiền này ông trình bày đã sử dụng để trả nợ tiền mua đấu giá thửa đất này là 46.000.000 đồng và chi cho việc nuôi 02 con chung ăn học những năm cuối cấp III và học đại học, đến năm 2018 là hết số tiền cho thuê trên.

Ngoài ra để nuôi con chung ăn học và chăm mẹ già, ông đã vay của ông T1 345.000.000 đồng, đến nay ông đã trả hết cho ông T1 số tiền vay này và ông không có đề nghị gì.

Đối với thoả thuận cho thuê quyền sử dụng đất thửa số 228, tờ bản đồ số 21, diện tích 50 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G của ông với gia đình anh T1, ông xác định do một mình ông tự cho T3, bà H không biết, không tham gia cho thuê; các tài sản trên đất là do vợ chồng ông T1 xây dựng. Trường hợp nếu ông được giao quyền sử dụng đất thì ông đồng ý để ông T1 tiếp tục sử dụng đất thuê cho đến hết thời hạn đã thoả thuận giữa ông với ông T1 vào ngày 01/01/2026. Về tài sản trên đất ông với ông T1 tự thoả thuận.

Về công nợ chung: ông Đ xác định ông và bà H không có khoản nợ chung.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình:

Tại biên bản làm việc ngày 20/8/2024 ông C, cụ D, bà Q, bà L trình bày, việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung vợ chồng đối với phần tài sản là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình thì cụ D, ông C, bà Q, bà L đồng ý và không có ý kiến gì. Các ông bà xin rút lại mọi yêu cầu Tòa án giải quyết mà trước đây đã gửi đến Tòa án đối với tài sản nêu trên, kể cả yêu cầu trong đơn đề nghị Tòa án giải quyết của ông C. Tại phiên toà bà Trần Thị Q giữ nguyên quan điểm trình bày như trên, không bổ sung gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Cao T1 trình bầy:

gia đình anh có thuê của ông Đ mảnh đất diện tích 50m2 với giá 3.500.000 đồng/tháng, thời hạn 10 năm từ ngày 01/01/2016 đến 01/01/2026, trả tiền 1 lần được miễn trừ 02 năm đầu không thu tiền, tổng số tiền thuê nhà anh đã trả cho ông Đ là 336.000.000 đồng. Khi cho thuê ông Đ nói với anh là cho thuê để có tiền cho con ăn học và chăm mẹ già vì vợ chồng anh chị ấy ly thân mà chị ấy không quan tâm đến ai cả. Việc thỏa thuận thuê đất có giấy viết tay ghi nhận mà không lập thành hợp đồng theo quy định. Hiện nay trên mảnh đất này có nhà cấp 4 do vợ chồng anh chị xây dựng hết 105.000.000 đồng. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định để đảm bảo quyền lợi cho gia đình anh.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21 tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình:

Hiện trạng thửa đất có diện tích 47m2; giá trị quyền sử dụng đất 237.256.000 đồng;

Tài sản trên đất: Nhà kho 1 tầng, giá trị còn lại: 45.222.000 đồng; C1 San lấp, bồi trúc, giá trị: 7.614.000 đồng; toàn bộ tài sản trên đất và công san lấp, bồi trúc là do gia đình anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 xây dựng, san lấp.

Tại văn bản trả lời của UBND huyện G số 773/UBND-TNMT ngày 26/4/2024 xác định: Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn đã thẩm định thực địa đối với tài sản đang tranh chấp là quyền sử dụng đất có diện tích 50m2 tại thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21 xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kiểm tra thẩm định tại thực địa xác định các cạnh của thửa đất, diện tích đo được là 47m2 có sự sai khác, biến động so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đ bà H diện tích 50m2. UBND huyện G xác định về hồ sơ pháp lý, kích thước và diện tích thửa đất được xác định theo hồ sơ địa chính và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chủ sử dụng đất, tại vị trí đất trên không có quyết định thu hồi đất để cải tạo, nâng cấp đường giao thông. Tuy nhiên đối với các thửa đất ở tại khu vực nông thôn qua quá trình sử dụng đất trên thực địa thường có sự biến động nhất định. Do vậy đề nghị chủ sử dụng đất liên hệ với UBND xã để thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định.

Tại phiên toà, cháu Trần Văn L3 là con thứ hai của bà Nguyễn Thị H, ông Trần Văn Đ1 trình bày:

cháu và anh là Trần Văn L4 từ nhỏ đã sinh sống cùng với bố và nhận được sự quan tâm chăm sóc từ bố, từ năm 2010 khi bố mẹ ly thân các cháu vẫn tiêp tục được bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cho ăn học cho đến khi hai anh em cháu trưởng thành tự lập, anh em cháu không nhận được sự quan tâm chăm sóc của mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung, Đề nghị HĐXX:

Căn cứ:

Khoản 2, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 157, Điều 165; khoản 2, khoản 4 Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; điểm b, đ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

Điều 357 Bộ luật Dân sự;

Các Điều 33, 56, 59, 60, 62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định số 70/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh N quy định điều kiện, diện tích tối thiểu tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình;

Khoản 1 Điều 26, điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Xử: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Xuân Đ.

2. Về tài sản chung:

Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung đối với quyền sử dụng thửa đất số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

Giao cho bà H được quyền sở hữu tài sản chung là quyền sử dụng đất tại thửa đất thửa đất 228, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình có giá trị tài sản là 237.256.000 đồng.

3. Về nghĩa vụ thanh toán

Buộc ông T1 bà T2 phải tháo dỡ các tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình trên thửa đất khi hết hạn hợp đồng cho thuê đất để giao lại thửa đất cho bà H kể từ ngày 01/01/2026.

Buộc bà H phải thanh toán số tiền chênh lệch tài sản cho ông Đ là 118.628.000 đồng.

4. Về chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Bà H nhận nộp toàn bộ chi phí. Bà H đã nộp đầy đủ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

5. Về án phí sơ thẩm:

Bà H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn, án phí chia tài sản chung theo quy định.

Ông Đ phải chịu án phí chia tài sản theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là ông Trần Xuân Đ có nơi cư trú tại: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn ông Trần Xuân Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Q. Vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm cụ D, ông C, bà L, anh T1, chị T2 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự khác theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho các đương sự về kết quả định giá tài sản, yêu cầu các đương sự trình bày quan điểm về giá của tài sản, tại phiên toà ông Đ không có ý kiến gì; tại biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án bà H, ông C, bà Q, bà L đồng ý và đề nghị Tòa án tiếp tục sử dụng kết quả định giá trong hồ sơ để giải quyết vụ án; anh T1, chị T2 không có ý kiến gì. Do vậy Hội đồng xét xử tiếp tục sử dụng kết quả định giá ngày 20/8/2023 để giải quyết vụ án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Xuân Đ cùng xác định ông bà được tự do tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/1993 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Việc kết hôn của bà H, ông Đ đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Trần Xuân Đ là hợp pháp.

Tại phiên toà, ông Đ, bà H cùng xác định quá trình chung sống ông bà hạnh phúc được một thời gian sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi cọ nhau, hai vợ chồng ông bà sống ly thân từ lâu (bà H xác định từ khoảng tháng 10 năm 2010 đến nay). Bà H, ông Đ xác định đến nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân từ lâu nên bà H, ông Đ đồng ý thuận tình ly hôn.

Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Trần Xuân Đ đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên toà ông Đ và bà H cùng đồng ý do vậy cần chấp nhân.

[3]. Về yêu cầu xem xét công sức nuôi con chung của ông Trần Xuân Đ: bà H và ông Đ có hai con chung là Trần Xuân L1, sinh ngày 03/4/1994; con bé tên là Trần Xuân L2, sinh năm: 20/10/1998, do các cháu đã trưởng thành tự lập nên bà H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đ đề nghị Tòa án xem xét công sức của ông trong việc công sức nuôi dưỡng con chung từ thời điểm vợ chồng ly thân năm 2010 cho đến khi các cháu học xong đại học theo quy định của pháp luật.

Theo quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ thực hiện đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình. Bà H xác định vợ chồng ly thân từ khoảng tháng 10/2010; Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này được xác định từ tháng 10 năm 2010, khi đó cháu L2 hơn 16 tuổi, cháu L1 hơn 12 tuổi; thời điểm cháu L2 đủ 18 tuổi là ngày 03/4/2012; cháu L1 đủ 18 tuổi là ngày 20/10/2016.

Theo hướng dẫn tại khoản 2, phần III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của TANDTC, mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục cho mỗi con tối thiểu không dưới ½ mức lương tối thiểu do nhà nước quy định.

Do vậy mức cấp dưỡng các thời gian trước cụ thể như sau:

Thời điểm áp dụngLương tối thiểu (đồng/tháng)Căn cứ pháp lý
Từ 01/5/2010 - hết 30/4/2011730.000Nghị định 28/2010/NĐ-CP
Từ 01/5/2011 - hết 30/4/2012830.000Nghị định 22/2011/NĐ-CP
Từ 01/5/2012 – hết 30/6/20131.050.000Nghị định 31/2012/NĐ-CP
Từ 01/7/2013 - hết 30/4/20161.150.000Nghị định 66/2013/NĐ-CP
Từ 01/5/2016 - hết 30/6/20171.210.000Nghị định 47/2016/NĐ-CP

Với mỗi cháu, mức cấp dưỡng được tính như bảng sau:

Mức cấp dưỡng cho cháu L2 từ ngày 01/10/2010 đến ngày 03/4/2012:

Thời gianLương cơ sở/ thángMức tiền cấp dưỡng
(1/2 lương cơ sở/tháng)
Từ 01/10/2010 - hết 30/4/2011 (06 tháng)730.0002.190.000
Từ 01/5/2011 - hết 30/3/2012 (11 tháng)830.0004.565.000
Tổng:6.755.000 đồng

Mức cấp dưỡng cho cháu L1 từ ngày 01/10/2010 đến ngày 20/10/2016:

Thời gianLương cơ sở/ thángMức tiền cấp dưỡng
(1/2 lương cơ sở/tháng)
Từ 01/10/2010 - hết 30/4/2011 (06 tháng)730.0002.190.000
Từ 01/5/2011 - hết 30/4/2012 (12 tháng)830.0004.980.000
Từ 01/5/2012 – hết 30/6/2013 (14 tháng)1.050.0007.350.000
Từ 01/7/2013 - hết 30/4/2016 (33 tháng)1.150.00018.975.000
Từ 01/5/2016 - hết 20/10/2016( 6 tháng)1.210.0003.630.000
Tổng:37.125.000 đồng

Tổng số tiền theo quy định pháp luật bà H phải cấp dưỡng cho hai con trong khoảng thời gian phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng là:

6.755.000 đồng + 37.125.000 đồng = 43.880.000 đồng.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H tự nguyện bù đắp tiền nuôi con cho ông Trần Xuân Đ số tiền là 50.000.000 đồng, xét thấy phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

[4] Về tài sản chung:

4.1. Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, ngày 02/02/2024 nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không đề nghị Tòa án giải quyết phân chia đối với tài sản này. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận, đình chỉ đối với phần yêu cầu này, đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.

4.2. Đối với tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21, diện tích 50 m²; Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Ông Đ bà H cùng xác định nguồn gốc tài sản là do ông bà mua đấu giá quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân, do vậy ông Đ, bà H mỗi người được hưởng ½ giá trị quyền sử dụng đất. Tại phiên toà cả bà H và ông Đ đều đề nghị được nhận quyền sử dụng thửa đất này.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định hiện trạng quyền sử dụng đất: 47m2; Giá trị quyền sử dụng 47m2 đất theo kết quả định giá: 237.256.000 đồng.

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định số 70/2024/QĐ-UBND ngày 14/10/2024 của UBND tỉnh N quy định điều kiện, diện tích tối thiểu tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, thửa đất trên không đủ điều kiện để chia tách thửa đất, mặt khác bà H hiện nay chưa có chỗ ở ổn định, ông Đ còn chỗ ở khác tại xã G, huyện G. Do vậy Hội đồng xét xử nhận thấy cần chia cho bà H được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21 địa chỉ tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Bà H có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Đ ½ giá trị thửa đất, tương ứng với số tiền 118.628.000 đồng.

Tại văn bản trả lời của UBND huyện G số 773/UBND-TNMT ngày 26/4/2024 xác định: “…… đối với các thửa đất ở tại khu vực nông thôn qua quá trình sử dụng đất trên thực địa thường có sự biến động nhất định. Do vậy đề nghị chủ sử dụng đất liên hệ với UBND xã để thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định.” Như vậy sau khi được giao đất bà H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định của pháp luật.

4.3. Đối với số tiền thu được từ việc cho thuê quyền sử dụng đất:

Ngày 01/01/2016 ông Đ có thỏa thuận cho vợ chồng ông T1 bà T2 thuê với thời hạn 10 năm từ tháng 01/2016 với giá thuê 3.500.000 đồng/ tháng, miễn tiền thuê hai năm đầu tiên, trả tiền 1 lần với tổng số tiền là 336.000.000 đồng, ông Đ đã nhận toàn bộ số tiền thuê đất nêu trên. Số tiền này phát sinh từ tài sản chung của ông Đ, bà H, hình thành trong thời kỳ hôn nhân; bà H có yêu cầu phân chia do vậy đây được coi là tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H để phân chia.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà H trình bày việc mua đấu giá đất từ năm 2005 với số tiền là 46.000.000 đồng, khi đó hai vợ chồng ông bà có 35.000.000 đồng từ tiền bán trâu, bán lúa, bán lợn của hai vợ chồng và vay của chị gái bà H là bà H1 số tiền 11.000.000 đồng. Sau khi đấu giá đất xong khoảng 02 năm thì ông Đ bà H cũng đã trả hết số tiền nợ cho bà H1. Bà H1 cũng có bản trình bầy ngày 25/12/2024 xác nhận nội dung trên là đúng.

Ông Đ xác định số tiền có được từ việc cho anh T1 thuê đất ông đã sử dụng để trả nợ tiền mua đấu giá mảnh đất trên là 46.000.000 đồng và chi cho việc nuôi 02 con chung ăn học đến năm 2018 là hết số tiền cho thuê trên. Ngoài ra để nuôi con chung ăn học và chăm mẹ già, ông đã vay của ông T1 345.000.000 đồng, đến nay ông đã trả hết cho ông T1 số tiền vay này nên không có yêu cầu đề nghị gì.

Ông Đ xác định việc ông dùng một phần số tiền cho thuê đất để trả tiền đấu giá tài sản chung của vợ chồng nhưng ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho trình bầy của mình. Do đó không có cơ sở để chấp nhận phần trình bầy của ông Đ về nội dung trên.

Hội đồng xét xử nhận thấy số tiền 336.000.000 đồng là tài sản chung của vợ chồng ông Đ, bà H, hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nên mỗi người được hưởng ½ giá trị, tương ứng với số tiền 168.000.000 đồng. Do ông Đ đã nhận toàn bộ số tiền 336.000.000 đồng từ gia đình anh T1 do vậy cần buộc ông Đ phải thanh toán lại cho bà H số tiền là 168.000.000 đồng

4.4. Nghĩa vụ thanh toán giữa bà Nguyễn Thị H và ông Trần Xuân Đ.

* Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Xuân Đ các khoản sau:

Tiền bù đắp nghĩa vụ nuôi con chung: 50.000.000 đồng

Tiền thanh toán ½ giá trị quyền sử dụng đất: 118.628.000 đồng

Tổng số tiền bà H phải thanh toán cho ông Đ: 168.628.000 đồng

* Ông Trần Xuân Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị H các khoản sau: Thanh toán ½ tiền cho thuê quyền sử dụng đất: 168.000.000 đồng

* Đối trừ nghĩa vụ, bà Nguyễn Thị H còn phải thanh toán lại cho ông Đ số tiền là: 168.628.000 đồng – 168.000.000 đồng = 628.000 đồng

4.5. Đối với tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất cho thuê.

Ngày 01/01/2016 ông Trần Xuân Đ cho anh Nguyễn Cao T1 thuê quyền sử dụng thửa đất, ông Đ và anh T1 có lập “Hợp đồng cho thuê đất”, thời hạn 10 năm từ ngày 01/01/2016 đến 01/01/2026, sau đó vợ chồng ông Nguyễn Cao T1 và bà Nguyễn Thị Thu T2 là người có công san lấp, bồi trúc và xây dựng nhà kho trên thửa đất thuê. Quá trình giải quyết vụ án ông T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định để đảm bảo quyền lợi cho ông. Tại phiên tòa bà H trình bày nếu được giao quyền sử dụng đất thì bà tiếp tục đồng ý cho ông T1, bà T2 được sử dụng đất thuê cho đến ngày 01/01/2026 như thời hạn mà ông Đ đã thỏa thuận với anh T1. Do quyền sử dụng đất giao cho bà H nên anh T1, chị T2 được tiếp tục sử dụng đất thuê đến hết ngày 01/01/2026.

[5]. Về chi phí tố tụng:

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà H đã tự nguyện nhận trách nhiệm thanh toán toàn bộ, không yêu cầu ai phải thanh toán lại chi phí này, không yêu cầu Toà án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí:

* Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng

* Tổng giá trị tài sản bà Nguyễn Thị H được chia gồm:

118.628.000 đồng + 168.000.000 đồng = 286.628.000 đồng

Nghĩa vụ bà H phải thực hiện: 50.000.000đồng

Do vậy bà H phải chịu án phí trên tổng số tiền (286.628.000đ+ 50.000.000đồng) = 336.628.000 đồng; Số tiền án phí tài sản bà Nguyễn Thị H phải chịu là: 336.628.000 đồng x 5% = 16.831.400 đồng;

Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 16.300.000 đồng bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0003973 ngày 23/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn, bà H còn phải nộp số tiền án phí là (16.831.400 đồng + 300.000 đồng) - 16.300.000 đồng = 831.400 đồng.

* Tổng giá trị tài sản ông Trần Xuân Đ được chia:

118.628.000 đồng + 168.000.000 đồng = 286.628.000 đồng

Số tiền án phí chia tài sản ông Đ phải chịu: 286.628.000₫ x5% = 14.331.400 đồng.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 218; điểm b, đ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Các Điều 33, 55, 56, 59, 60, 62, 107, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ khoản 1 Điều 26, điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Xuân Đ

2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung đối với quyền sử dụng thửa đất số 32, tờ bản đồ số 15, diện tích: 582 m². Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

3. Giao cho bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Bà H có nghĩa vụ thanh toán ½ giá trị tài sản chung cho ông Trần Xuân Đ số tiền 118.628.000 đồng (một trăm mười tám triệu, sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) và thanh toán bù đắp tiền nuôi con cho ông Trần Xuân Đ số tiền là: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng)

Ông Trần Xuân Đ phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H ½ giá trị tiền cho thuê quyền sử dụng đất, số tiền là 168.000.000 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu đồng).

Bù trừ nghĩa vụ, ông Trần Xuân Đ còn được nhận tiền chêch lệch tài sản do bà Nguyễn Thị H thanh toán lại là 628.000 đồng (sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng).

4. Anh Nguyễn Cao T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 tiếp tục được sử dụng thửa đất số 228, tờ bản đồ số 21, địa chỉ tại thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình đến ngày 01/01/2026 theo thời hạn thỏa thuận trong “Hợp đồng thuê đất” giữa ông Trần Xuân Đ và anh Nguyễn Cao T1 ký ngày 01/01/2016.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

4. Án phí:

Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 16.831.400 đồng đồng án phí chia tài sản; khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 16.300.000 đồng bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0003973 ngày 23/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn, số tiền án phí bà H còn phải nộp là 831.400 đồng (tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng).

- Ông Trần Xuân Đ phải chịu tiền án phí chia tài sản là 14.331.400 đồng. (mười bốn triệu ba trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 23/01/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - UBND xã Gia Lập, huyện Gia Viễn, Ninh Bình
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lã Hoàng Giáp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận YCKK
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger