|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2025 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hữu và ông Lê Xuân Hường.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T, Kiểm sát viên.
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 75/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06/11/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/HNGĐ-ST, ngày 08/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H; sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thị H1 – thuộc Công ty L – Đoàn Luật sư tỉnh H; Địa chỉ: Số B, đường V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H2; sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Ngọc H2 kết hôn với nhau vào ngày 10/12/2014, đăng ký tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, hôn nhân tự nguyện không bị ai lừa dối, ép buộc. Trong thời kỳ đầu hôn nhân, vợ chồng sống chung hạnh phúc và có một con chung là Nguyễn Tùng B, sinh ngày: 30/8/2015. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng đi làm ăn xa, mỗi người một nơi nên phát sinh nhiều bất đồng, mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống. Nhận thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Nguyễn Tùng B, sinh ngày 30/8/2015. Tại đơn khởi kiện chị H trình bày nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, yêu cầu anh H2 cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị H đồng ý giao con chung cho anh H2 trực tiếp nuôi dưỡng vì từ nhỏ cháu B đã sinh sống, học tập ổn định cùng bố và ông bà nội tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 06/11/2024 và tại phiên tòa bị đơn là anh Nguyễn Ngọc H2 trình bày:
- Về hôn nhân: thời điểm kết hôn, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng như chị H trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa cách, mỗi người một nơi nên tình cảm ngày càng phai nhạt, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bản thân anh H2 có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng để nuôi dạy con cái nhưng nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh H2 cũng đồng ý. Mặt khác, anh H2 là người theo đạo Thiên chúa giáo nên về tình cảm anh H2 đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về con chung: vợ chồng có một con chung là Nguyễn Tùng B, sinh ngày 30/8/2015. Hiện tại cháu đang sống cùng ông bà nội vì cả bố và mẹ đều đi làm ăn xa. Nếu vợ chồng không thể hàn gắn thì anh H2 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Anh H2 cam kết sẽ bảo đảm các điều kiện sinh hoạt, học tập tốt nhất cho cháu.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Tại văn bản số 02/UBND, ngày 07/01/2025 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp như sau: Anh Nguyễn Ngọc H2 và chị Nguyễn Thị Thu H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T. Sau khi kết hôn vợ chồng có cư trú tại địa phương một thời gian, sau đó rời địa phương đi làm ăn xa. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng chính quyền địa phương không nắm được vì các đương sự không thông báo cho chính quyền đề nghị hòa giải. Hiện tại hai vợ chồng không có sinh sống tại địa phương. Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Tùng B, hiện đang sinh sống cùng ông bà nội tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
- Tại phiên tòa các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu của mình, không bổ sung gì thêm.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến tại phiên toà hôm nay: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục thu thập chứng cứ đảm bảo đúng pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã có bản tự khai trình bày ý kiến của mình, cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án; được tiếp cận các tài liệu chứng cứ do đương sự khác xuất trình và Tòa án thu thập. Tại phiên tòa hôm nay có mặt bị đơn; vắng mặt nguyên đơn nhưng nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt và có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tham gia phiên tòa nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
+ Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H về việc ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H2;
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tùng B, sinh ngày 30/8/2015 cho anh Nguyễn Ngọc H2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cấm, cản trở;
+ Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét;
+ Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn; bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đã có mặt và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã được tiếp cận các tài liệu, chứng cứ do đương sự khác cung cấp và tòa án thu thập nên đủ căn cứ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay có mặt bị đơn; vắng mặt nguyên đơn nhưng nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt và có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tham gia phiên tòa nên HĐXX đủ căn cứ xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Ngọc H2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc, đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, do đó có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng sống xa cách, tình cảm ngày càng phai nhạt, thiếu sự yêu thương, tin tưởng lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được Tòa án phân tích, hòa giải nhưng chị H cho rằng tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết xin ly hôn; còn anh H2 thể hiện mong muốn đoàn tụ để nuôi dạy con cái nhưng nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh H2 cũng đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng, điều kiện xây dựng gia đình hạnh phúc phải xuất phát từ hai phía, nay chị H khẳng định không còn tình cảm với anh H2 và kiên quyết ly hôn. Bản thân anh H2 cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng phát sinh như chị H trình bày là đúng thực tế; mặc dù ban đầu anh H2 thể hiện mong muốn đoàn tụ để nuôi dạy con cái nhưng cũng không có giải pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng; trong trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh H2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Mặt khác, trên thực tế vợ chồng cũng đã sống ly thân nhiều năm, không tìm được tiếng nói chung trong xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H về việc xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc H2 là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Tùng B, sinh ngày 30/8/2015. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã đạt được sự thống nhất giao cháu Nguyễn Tùng B cho anh H2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ nhỏ đến nay cháu B chủ yếu sống với bố và ông bà nội tại thôn Đ, xã T, huyện T, cuộc sống học tập của cháu đã ổn định và bản thân cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy ý kiến của các bên đương sự phù hợp với nguyện vọng của cháu B và bảo đảm điều kiện tốt nhất cho cháu. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Ngọc H2 tiếp tục giao con chung Nguyễn Tùng B, sinh ngày 30/8/2015 cho anh H2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cấm cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự tự thoả thuận không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử nên miễn xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện nên phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: anh Nguyễn Ngọc H2 có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 96, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H2.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tùng B, sinh ngày 30/8/2015 cho anh Nguyễn Ngọc H2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị Thu H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0005453, ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: anh Nguyễn Ngọc H2 có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhân |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Hiền - Hoàng
