TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 02 năm 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Jưh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huê và bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2024/TLST- HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QÐST –HNGĐ ngày 20/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Đ, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Có đơn xin xét xử vắng mặt..
- Bị đơn: Anh Phùng Văn L, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 12/07/20224, bản tự khai ngày 02/10/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Hà Thị Đ trình bày:
Tôi và anh L sau khi tìm hiểu quen biết nhau được gia đình hai bên đồng ý chúng tôi có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai vào năm 2017. Sau khi kết hôn về vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân hai người tính tình không hợp nhau, anh L không qua tâm gì đến vợ con, từ đó vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng đến cuối năm 2018 thì chúng tôi đã sống ly thân cho đến nay. Nay tôi không thể tiếp tục chung sống được với anh L vì vậy tôi đề nghị tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lâm
Về con chung: Có 01 con chung là Phùng Bảo K, sinh ngày 18/6/2016. Hiện con đang còn sống với tôi nay ly hôn tôi nhận nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Phùng Văn L có nơi cư trú tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án một cách hợp lệ cho anh L. Anh L đã biết việc chị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung nhưng anh L không cung cấp bản tự khai, không đến Tòa án để làm việc và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa lần thứ hai anh L cũng vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm bản tự khai, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến phiên tòa theo Giấy triệu tập.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho chị Hà Thị Đ ly hôn với anh Phùng Văn L.
Về con chung: Giao 01 con chung là Phùng Bảo K, sinh ngày 18/6/2016 cho chị Hà Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản, nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội; buộc chị Nông Thị Cẩm L1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Hà Thị Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phùng Văn L có nơi cư trú tại Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Phùng Văn L không có yêu cầu phản tố đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Nguyên đơn chị Hà Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Hà Thị Đ và anh Phùng Văn L đăng ký kết hôn ngày 18/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai số 52 ngày 18/4/2017 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống chị Hà Thị Đ và anh Phùng Văn L phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung thường xuyên cãi vã. Từ năm 2018 đến nay chị Đ và anh L đã không còn chung sống cùng nhau. Nên chị Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Tại biên bản xác minh ngày 04/10/2024 tại tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P cho thấy: Anh L và chị Đ vào năm 2017 có tổ chức đám cưới và sau đó hai vợ chồng đi làm công ty và đến năm 2018 thì chị Đ và anh L sống ly thân, chị Đ cùng con nhỏ sống tại nhà mẹ đẻ tại Đắk Nông. Tại đơn xin xác nhận ngày 04/102024 do chị Đ cung cấp có thể hiện việc chị Đ cùng với con đang sống ở nhà bố mẹ đẻ được chính quyền thôn P, xã E, huyện C và UBND xã E xác nhận. Từ đó nhận thấy hôn nhân giữa chị Đ và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Hà Thị Đ được ly hôn anh Phùng Văn L.
- Về con chung: Chị Hà Thị Đ và anh Phùng Văn L có 01 con chung là Phùng Bảo K, sinh ngày 18/6/2016. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con và nguyện vọng của cháu K là được sống cùng mẹ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị Hà Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hà Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Hà Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Đ
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Đ được ly hôn với anh Phùng Văn L.
2. Về con chung: Giao con chung là Phùng Bảo K, sinh ngày 18/6/2016 cho chị Hà Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi), hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Chị Hà Thị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0009034, ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Ánh Ngọc Nguyễn Thị Huê | Ksor Jưh |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Gia Lai;
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Phú Thiện;
- - Chi Cục THS DS huyện P;
- - Lưu HS.
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đào xin ly hôn với anh Lâm
