|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
|
Bản án số: 01/2025/HNGĐ - ST Ngày: 12/11/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Quang Khải - Trưởng Ban xây dựng Đảng xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên.
- Ông Kim Khánh Tùng - Chức vụ: Hiệu phó Trường THCS Mường Pồn, tỉnh Điện Biên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lò Thị C; sinh năm 1998;
- Bị đơn: Anh Lò Văn T; sinh năm 1994;
Nơi cư trú: Bản N, xã T, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở hiện nay: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là Bản Pa B, xã T, tỉnh Điện Biên), (có mặt có tại phiên toà).
Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là Bản N, xã T, tỉnh Điện Biên), (có mặt có tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Lò Thị C trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Lò Thị C và anh Lò Văn T chung sống như vợ chồng từ đầu năm 2016 đến ngày 06/7/2016 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là UBND xã T, tỉnh Điện Biên) anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, vợ chồng anh chị sống cùng với bố mẹ đẻ của chị C từ nhiều năm nay, anh T hay đi làm xa nhà, đã không giúp đỡ gì được cho gia đình, vợ con nhưng lại hay xúc phạm bố mẹ chị C và đã có lần đánh đập chị C trước mặt bố mẹ vợ, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng chị C nghĩ rằng cuộc hôn nhân không thể cố gắng thêm được nữa, anh chị đã sống ly thân từ tháng 04/2025 từ khi ly thân anh T vẫn đi làm xa nhà và khi về thì về nhà bố mẹ đẻ ở tại bản N, xã T, tỉnh Điện Biên. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vì vậy chị C đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên giải quyết cho ly hôn với anh Lò Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là các cháu Lò Thị Như Q; sinh ngày 29/4/2016; Lò Việt A; sinh ngày 16/7/2020; Lò Duy M; sinh ngày 17/7/2022. Chị C cho rằng anh T thường xuyên đi làm xa nhà (01 năm chỉ về nhà khi có công việc gia đình hoặc dịp tết). Vì vậy nguyện vọng sau khi ly hôn chị C sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị C không yêu cầu tòa giải quyết.
* Tại bản tự khai và tại các phiên hòa giải và trong quá trình giải quyết bị đơn anh Lò Văn T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Lò Văn T và chị Lò Thị Chung C sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2016 đến ngày 06/7/2016 anh chị mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là UBND xã T, tỉnh Điện Biên) vợ chồng anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung vì anh T phát hiện ra chị C có nhắn tin và gọi điện thoại cho người khác giới và gọi người khác bằng chồng, vì vậy mâu thuẫn ngày càng đỉnh điểm. Hiện tại vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 04/2025 và tại bản tự khai ngày 07/9/2025 anh T trình bày quan điểm của anh là đồng ý ly hôn với chị C vì xét thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được. Nhưng tại các phiên hòa giải thì anh T thay đổi ý kiến cho rằng vẫn thương yêu vợ con và không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn với chị C.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 29/4/2016; Lò Việt A, sinh ngày 16/7/2020; Lò Duy M, sinh ngày 17/7/2022. Tại các phiên Hòa giải anh T có nguyện vọng sau khi ly hôn anh T sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nhưng tại phiên Tòa ngày hôm nay anh mong muốn được nuôi cháu Lò Duy M, sinh ngày 17/7/2022 cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Anh T không yêu cầu tòa giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đã tiến hành hòa giải nhiều nhưng lần hoà giải nào cũng không thành. Ngày 24/10/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi giấy triệu tập hợp lệ cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung; về quan hệ tài sản như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán thụ lý đúng thẩm quyền theo Điều 48 của BLTTDS; xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng; thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng về xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đầy đủ, hợp pháp; thông báo cho đương sự và VKS đầy đủ các văn bản tố tụng; sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu trong thời hạn luật định. Hội đồng xét xử: Thành phần HĐXX đúng quy định tại Điều 63/BLTTDS; điều khiển phiên tòa đảm bảo đúng quy định tại Điều 239/BLTTDS. Thư ký Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51/BLTTDS. Người tham gia tố tụng: Thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72/BLTTDS.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81 Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 01/2024/NQQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 16/5/2024. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị C. Đề nghị cho chị Lò Thị C được ly hôn với anh Lò Văn T. Chị Lò Thị C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu là Lò Thị Như Q; sinh ngày 29/4/2016; Lò Việt A; sinh ngày 16/7/2020; Lò Duy M; sinh ngày 17/7/2022 cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do chị C không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét. Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a, khoản 5, Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chị Lò Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 12/10/2025 chị Lò Thị C nộp đơn khởi kiện về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn tại Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đối với anh Lò Văn T có địa chỉ tại Bản N, xã T, tỉnh Điện Biên. Ngày 13/8/2025 chị C đã nộp tạm ứng án phí theo Điều 146 Bộ luật tố tụng Dân sự (sau đây ghi tắt là BLTTDS) và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, cùng ngày Tòa án đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị C theo Điều 195 BLTTDS.
Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu Ly hôn giữa chị chị Lò Thị C và anh Lò Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Về Nội dung:
[2.1] Xét về hôn nhân: Chị C và anh T có đăng ký kết hôn theo đúng quy định, nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C thấy rằng, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị xảy ra do quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, anh T là người luôn nghi ngờ, chị C có quan hệ với người khác giới qua tin nhắn hoặc gọi điện thoại. bản thân chị C cũng cho rằng anh T cũng điện thoại cho người khác giới, anh chị đều không tin tưởng nhau, dẫn đến anh T nóng tính nhiều khi không kiềm chế được cảm xúc, vợ chồng anh chị sống tại nhà bố mẹ chị C từ nhiều năm nay nhưng chị C cho rằng anh T đã xúc phạm bố mẹ chị C và đánh chị C. Mặc dù đã được gia đình khuyên can nhiều lần nhưng chị C cho rằng không thể chịu đựng thêm được nữa, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 4/2025.
Về phía anh T tại bản tự khai thì anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể giải quyết được, anh đồng ý ly hôn nhưng tại các phiên hoà giải anh T thay đổi và cho rằng vẫn thương yêu vợ con nên anh không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn.
Tại biên bản xác minh ngày 17/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tại nơi cư trú của anh T, Trưởng bản N, xã T, tỉnh Điện Biên và U, tỉnh Điện Biên xác nhận thì vợ chồng chị C và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, sau khi kết hôn thì vợ chồng anh chị sống cùng bố mẹ chồng một thời gian ngắn, sau đó gia đình anh chị chuyển về nhà bố mẹ vợ sinh sống tại Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là: Bản Pa B, xã T, tỉnh Điện Biên) từ nhiều năm nay, chỉ thỉnh thoảng đi về nhà bố mẹ đẻ tại bản Noong Ứng, xã T. Thời gian gần đây (khoảng đầu tháng 9/2025) mới thấy anh T có về nhà bố mẹ đẻ ở, sau đó lại làm gì, ở đâu thì anh T không báo cáo và Trưởng bản cũng không nắm rõ được vì anh T đi suốt, thỉnh thoảng mới về nhà bố mẹ đẻ ở bản N, xã T. Tại thời điểm Tòa án nhân dân khu vực 2- Điện Biên đến làm việc theo như Trưởng bản được biết thì anh T cũng đang đi làm xa nhà, không có mặt ở địa phương.
Từ những phân tích và nhận định trên. Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Tình trạng mâu thuẫn của gia đình anh chị đã kéo dài và luôn thiếu sự tôn trọng nhau, thể hiện rõ tại các phiên hoà giải nào tại Toà án bản thân anh chị cũng không kiềm chế được cảm xúc của mình, chị C cho rằng anh T đã sống cùng bố mẹ chị C nhưng đã có lời lẽ xúc phạm bố mẹ chị và có lần còn đánh chị C, con cái ốm đau nằm viện anh T cũng không có trách nhiệm với con, không gửi tiền về nuôi con tất cả chỉ mình chị C và bố mẹ chị C phụ giúp. Bản thân anh T không thừa nhận và yêu cầu chị C nộp chứng cứ cho những lý do chị C đưa ra. Vì vậy ai cũng cho rằng mình đúng và đối phương là người có lỗi, không có tiếng nói chung, bản thân anh T không muốn ly hôn nhưng từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân cũng không có lần nào vợ chồng gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Bản thân anh T cũng xóa số, chặn hết mọi liên lạc từ phía chị C và gia đình chị C. Vì vậy khi Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng chị C vẫn nhất quyết ly hôn với anh T. Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho chị C khỏi tình trạng bạo lực gia đình, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như tâm lý của chị C, khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc cho nhau nên HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị C và áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, xử cho ly hôn giữa chị C và anh T.
[2.2] Về con chung:
Các con chung của chị C và anh T gồm: Cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 29/4/2016; Lò Việt A, sinh ngày 16/7/2020; Lò Duy M, sinh ngày 17/7/2022, trong đó có cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 29/4/2016 đã trên 07 tuổi. Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án ngày 12/9/2025 cháu Q khai rằng, mong muốn được ở cùng với mẹ là chị C vì cháu Q cho rằng cháu đã sống cùng mẹ và ông bà ngoại với các em từ nhiều năm nay, bố cháu thường xuyên đi làm xa nhà, thỉnh thoảng mới về và bố cháu không có giấy phép lái xe, không đưa đón cháu đi học được mà toàn phải nhờ bác dâu đến để đón đưa cháu đi học khi cháu về nhà ông bà nội và cháu Q mong muốn chị em được ở cùng với nhau, không muốn xa nhau.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên đối với anh T, anh T cũng thừa nhận rằng anh T thường xuyên đi làm xa nhà ở các tỉnh khác nhau và chỉ về nhà khi dịp tết hoặc khi gia đình có việc, việc chăm con đưa đón các cháu đi học là do vợ anh và có thêm sự phụ giúp của bố mẹ vợ anh T. Khi vợ chồng ly thân, chị C nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án, anh T có về nhà bố mẹ đẻ vài ngày và đón cháu Q về nhà ông bà nội (bố mẹ anh T) ở nhưng anh T không có giấy phép lái xe mô tô nên cũng không đưa đón con đi học được, việc đưa cháu đến trường phải nhờ đến chị dâu của anh T đến đón cháu đi học và đưa cháu về.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh T thường xuyên đi làm xa nhà, thi thoảng mới về. Cháu Q là con gái, Lò Việt A; Lò Duy M còn rất nhỏ, các cháu đã nhiều năm sống nhờ nhà ông bà ngoại và đã quen với môi trường sống, sinh hoạt và học tập. Việc giao các con chung cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng là không đảm bảo về mọi mặt cho các cháu. Vì vậy HĐXX chấp nhận nguyện vọng được sống cùng với mẹ của cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 29/4/2016 đồng thời chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi các cháu Lò Việt A, sinh ngày 16/7/2020; Lò Duy M, sinh ngày 17/7/2022 của chị C là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 69 và Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Điểm e, g Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 16/5/2024. Anh T có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện nuôi các con của chị C.
[3] Về tài sản: Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị C và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy HĐXX không xem xét.
[4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lò Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81 Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ngày 16/5/2024.
Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lò Thị C với anh Lò Văn T.
- Về con chung: Giao các con chung là các cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 29/4/2016; Lò Việt A, sinh ngày 16/7/2020; Lò Duy M, sinh ngày 17/7/2022 cho chị Lò Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác.
- Về chia tài sản chung: Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; Nợ lấy về; Diện tích ruộng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lò Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí DSST chị C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000022 ngày 13/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên. Chị C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/11/2025).
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 01/2025/HNGĐ - ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị C đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 2- Điện Biên giải quyết cho ly hôn với anh Lò Văn T
