|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày 08/4/2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm
Ông Nguyễn Văn Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 08/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 02/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh ngày: 08/10/1993;
Căn cước công dân số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 28/6/2021;
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Kiều Việt T, sinh ngày 20/11/1986;
Căn cước công dân số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 09/5/2021;
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày như sau:
Về tình cảm: Chị Đặng Thị H và anh Kiều Việt T tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2016 tại UBND phường S (Nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn sau là do anh Kiều Việt T thường xuyên chơi bời, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù đã nhiều lần được hai gia đình hòa giải để trở về đoàn tụ không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đặng Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Kiều Việt T.
Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là Kiều Gia L, sinh ngày 09/7/2017 và Kiều Quỳnh A, sinh ngày 26/8/2019. Hai con chung hiện vẫn đang sinh sống cùng với bố mẹ tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Nay vợ chồng ly hôn chị H có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Kiều Gia L đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi) và đề nghị giao con chung Kiều Quỳnh A cho anh Kiều Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Chị H không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
* Tại Biên bản lấy lời khai, Biên bản công khai chứng cứ, Biên bản hòa giải ngày 20/12/2024, bị đơn anh Kiều Việt T trình bày:
Về tình cảm: Anh và chị Đặng Thị H tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2016 tại UBND phường S (Nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được khoảng 04 năm, đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn sau là do chồng còn ham chơi, chưa quan tâm đến gia đình, vợ ngoại tình với người khác. Anh Kiều Việt T nhận thức được thiếu sót, mong muốn được sửa chữa để có cơ hội hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình hôn nhân vợ chồng có 02 con chung là cháu Kiều Gia L, sinh ngày 09/7/2017 và cháu Kiều Quỳnh A, sinh ngày 26/8/2019. Hai cháu hiện vẫn đang sinh sống cùng với bố mẹ tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Trường hợp ly hôn, anh Kiều Việt T đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là Kiều Gia L và Kiều Quỳnh A đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Anh T không yêu cầu chị H nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Kiều Việt T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Quá trình giải quyết, xét xử vụ án, bị đơn Kiều Việt T đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản thủ tục tố tụng theo luật định nhưng vắng mặt không có lý do tại buổi hòa giải ngày 19/02/2025 và vắng mặt tại các phiên tòa xét xử.
Xác minh tại chính quyền địa phương, Công an phường H, thị xã K xác nhận: Anh Kiều Việt T, sinh ngày 20/11/1986, có số định danh cá nhân: 042086010469, có nơi đăng ký thường trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại, anh Kiều Việt T chưa chuyển khẩu đi nơi khác và cũng không có nơi đăng ký tạm trú ở nơi khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải ngày 19/02/2025 của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Kiều Việt T. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Kiều Việt T;
- + Về con chung: Giao con chung Kiều Quỳnh A, sinh ngày 26/8/2019 cho anh Kiều Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Giao con chung Kiều Gia L, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh Kiều Việt T và chị Đặng Thị H.
+ Về tài sản và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Xử buộc chị Đặng Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Đặng Thị H có đơn xin ly hôn với anh Kiều Việt T, yêu cầu giải quyết về việc nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị H có nơi thường trú và chổ ở hiện nay tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; khởi kiện xin ly hôn với anh Kiều Việt T có nơi thường trú chổ ở hiên nay tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Đặng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Kiều Việt T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Anh Kiều Việt T đang cư trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.
[3]. Về hôn nhân:
Chị Đặng Thị H và anh Kiều Việt T tự do tìm hiểu, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện đến với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/3/2016 tại UBND phường S (Nay là phường H), thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận với nhau được 04 năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, do anh Kiều Việt T còn ham chơi, chưa có trách nhiệm với gia đình và con cái, dẫn đến hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hai bên bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, đã nhiều lần được gia đình hai bên hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Do đó, nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Đặng Thị H và anh Kiều Việt T không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Kiều Việt T.
[4]. Về con chung:
Chị Đặng Thị H và anh Kiều Việt T có 02 con chung là Kiều Gia L, sinh ngày 09/7/2017 và Kiều Quỳnh A, sinh ngày 26/8/2019. Hai con chung hiện vẫn đang sinh sống cùng với bố mẹ tại tổ dân phố H, phường H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Để các bên đều có trách nhiệm và cùng thực hiện quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, xét nguyện vọng của con chung nên cần giao con chung Kiều Quỳnh A, sinh ngày 26/8/2019 cho anh Kiều Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành(Tròn 18 tuổi). Giao con chung Kiều Ga L1, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Ghi nhận sự tự nguyện không đề nghị cấp dưỡng nuôi con của anh Kiều Việt T và chị Đặng Thị H
[5]. Về tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị H là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục A kèm theo của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị H với anh Kiều Việt T.
- 2. Về nuôi con chung: Giao con chung Kiều Quỳnh A, sinh ngày 26/8/2019 cho anh Kiều Việt T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi); giao con chung Kiều Gia L, sinh ngày 09/7/2017 cho chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyện của chị Đặng Thị H và anh Kiều Việt T về việc đề nghị thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hướng xấu đến đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- 3. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008440 ngày 08/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- 4. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T.M/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Tư |
6
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
