|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02.7.2025 V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Phẩm, Bà Nguyễn Thị Công Mừng.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5, Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vi Thị D, sinh ngày 10/11/1987;
- Số CCCD: [...];
- Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Nay là: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh). (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Đàm Truyền C, sinh ngày 13/10/1984
- Số CCCD: [...];
- Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Nay là: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Vi Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị D và anh Đàm Truyền C kết hôn với nhau vào năm 2009, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh), trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị D và anh C chung sống cùng nhau tại Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dạy con, thường xuyên xảy ra to tiếng, anh C chơi bời dẫn tới nợ lần làm cho cuộc sống ngày càng căng thẳng, kinh tế gia đình không đảm bảo cho cuộc sống. Đến đầu năm 2024 anh Đàm Truyền C tự bỏ nhà đi không rõ nguyên nhân tại sao, gia đình đã tìm hiểu thông tin của anh C nhưng đến nay không biết thông tin cụ thể đang ở đâu, làm công việc gì, nhưng anh C vẫn liên lạc với hai con chung của vợ chồng để hỏi thăm động viên các con, không liên lạc với tôi. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đàm Truyền C.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017. Nay ly hôn nguyện vọng của chị D được tiếp tục chăm nom, nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Đàm Truyền C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không phát sinh tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Vi Thị D xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Đàm Truyền C được biết nhưng anh C không có ý kiến trình bầy quan điểm của mình:
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đàm Truyền T1 vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại UBND xã nơi cư trú và nhà văn hóa thôn nơi anh C sinh sống, nhưng anh C không đến trụ sở Tòa án làm việc cũng như không cung cấp cho Tòa án bản tự khai hay tài liệu chứng cứ gì.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/4/2025, cháu Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017 trình bày nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được ở chung với mẹ là Vi Thị D.
Tại các biên bản xác minh tại xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang: Chị Vi Thị D và anh Đàm Truyền C có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 25/11/2009, Sau khi kết hôn chị D và anh C chuyển về chung sống cùng nhau tại Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình sống chung chị D và anh C có 02 con chung là Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017, hiện nay đang ở cùng chị D. Khoảng 01 năm trở lại đây không biết vì lý do gì anh C bỏ đi nơi khác sinh sống. Địa phương không biết anh C đi đâu làm gì.
Tại biên bản xác minh ngày 14/3/2025 tại Công an xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp những thông tin sau: Chị Vi Thị D và anh Đàm Truyền C có hộ khẩu thường trú tại: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh C và chị D kết hôn năm 2009. Sau khi kết hôn chị D và anh C chuyển về chung sống cùng nhau tại Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Từ đầu năm 2024 đến nay anh C không mặt tại địa phương, hiện nay địa phương không biết anh C đi đâu làm gì vì trước khi vắng mặt tại địa phương anh C không khai báo với cơ quan quản lý, cũng không đăng ký tạm trú tạm vắng tại công an xã G. Việc anh C vắng mặt tại địa phương nguyên nhân cụ thể Công xã G không biết. Hiện nay chị Vi Thị D cùng hai con vẫn đang sinh sống tại địa phương.
Tại công văn số 1386/QLXNC ngày 15/3/2025 của Phòng Q Công an tỉnh B: Cung cấp đến nay chưa có thông tin đăng ký hộ chiếu và xuất nhập cảnh của anh Đàm Truyền C.
Tại phiên tòa, do công việc bận và một số lý do khách quan nguyên đơn là chị Vi Thị D vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đàm Truyền C vắng mặt lần thứ hai không lý do. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, Bộ luật Tố tụng dân sự
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 6, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị D được ly hôn với anh Đàm Truyền C.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho Vi Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là 02 con chung là Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Vi Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Vi Thị D khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Bắc Ninh) giải quyết ly hôn và con chung với anh Đàm Truyền C có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là: Thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh).
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vi Thị D vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đàm Truyền C được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác nhận của chính quyền địa phương thì hiện anh Đàm Truyền C vẫn có hộ khẩu cư trú tại thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn H, xã L, tỉnh Bắc Ninh), anh C đã bỏ nhà đi hơn một năm nay lý do là gì bản thân chị D cùng địa phương đều không biết, cho đến thời điểm hiện tại cũng không có thông tin. Anh Đàm Truyền C cũng không cung cấp địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc hiện nay cho chị Vi Thị D biết. Theo Công văn số 1386/QLXNC ngày 15/5/2025 của Phòng Q Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh đối với anh Đàm Truyền C thì anh Đàm Truyền C không có thông tin cấp thông tin hộ chiếu và xuất nhập cảnh. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐ TP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khoản 3 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự được xem là anh Đàm Truyền C cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Vi Thị D và anh Đàm Truyền C theo thủ tục chung.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị D và anh Đàm Truyền C kết hôn với nhau vào năm 2009 và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh) ngày 25/11/2009 trước khi kết hôn chị D và anh C có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị D và anh C chuyển về chung sống cùng nhau tại Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị D và anh C thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chi D và anh C không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dạy con, thường xuyên xảy ra to tiếng, anh C chơi bời dẫn tới nợ lần làm cho cuộc sống ngày càng căng thẳng. Đến đầu năm 2024 anh C tự bỏ nhà ra đi không rõ nguyên nhân tại sao, chị D đã tìm hiểu thông tin của anh C nhưng đến nay không có thông tin gì gì cả, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Từ sau khi bỏ đi anh C có liên lạc về nhà nhưng chỉ liên lạc với các con, không có liên lạc gì với chị. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Vi Thị D và anh Đàm Truyền C đã căng thẳng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị D, cho chị Vi Thị D được ly hôn với anh Đàm Truyền C là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2]. Về con chung: Chị Vi Thị D trình bày vợ chồng có 02 con chung là Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017. Ly hôn chị Vi Thị D có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu anh Đàm Truyền C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Qua biên bản ghi lời khai của con chung: Cháu Đàm Gia L và cháu Đàm Gia Bảo T đều có nguyện vọng được ở với mẹ Vi Thị D. Xét nguyện vọng của các con chung cần tiếp tục giao cho chị Vi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017 là phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP của TAND Tối cao hướng dẫn về áp dụng quy định trong giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình.
Sau khi ly hôn anh Đàm Truyền C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Vi Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 6, Điều 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị D.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị D được ly hôn với anh Đàm Truyền C.
- - Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cho chị Vi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đàm Gia L, sinh ngày 21/8/2010 và Đàm Gia Bảo T, sinh ngày 12/6/2017 cho đến khi từng con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị D nuôi hai con chung không yêu cầu anh Đàm Truyền C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn, anh Đàm Truyền C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Chị Vi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002839 ngày 14/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Diệp Văn Vĩ |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 02/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ Vi Thị D + Đàm Truyền C
