Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11

TỈNH AN GIANG

———

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Số: 01/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 01 - 7 - 2025.

“Về tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Liêm;
  2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 839/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2024 về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 313/2025/QÐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T, sinh năm 2003 (CCCD [...] cấp ngày 12/08/2021); địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Vắng mặt).

Bị đơn: Ông Đỗ Trọng P, sinh năm 2003; địa chỉ cư trú: Xã C) (Tổ A, ấp Đ, xã M, huyện C cũ), tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 12/12/2024 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông P được hình thành là do tự tìm hiểu, gia đình hai bên đồng ý đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2022, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64 ngày 06/5/2024. Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 4/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên gây cãi và mỗi lần gây cãi ông P bỏ nhà đi mà không báo đi đâu, công việc gia đình bỏ mặt cho bà lo, bà không chịu đựng được nên ly thân với ông P từ tháng 5/2024 đến nay. Trong thời ly thân gia đình không đứng ra hàn gắn. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông P.

Về quan hệ con chung: Bà với ông P có 01 con chung tên Đỗ Huỳnh P1, sinh ngày 10/3/2024, trước đây do ông P nuôi, nhưng từ ngày 10/02/2025 thì bà bắt cháu lại về nuôi. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục nuôi cháu P1 không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông P không có tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông P không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Đỗ Trọng P để tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bảo lưu ý kiến.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà T – ông P chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, theo đó bà T cho rằng do bất đồng quan điểm, ông P không quan tâm gia đình, thường xuyên gây cãi ...và ly thân nhau, nên bà T xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung Đỗ Huỳnh P1, hiện chưa đủ 3 tuổi và đang do bà nuôi, đề nghị giao cháu P1 cho bà T tiếp tục nuôi; về tài sản chung, nợ chung không có, nên không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục: Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; riêng ông P được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt bà T, ông P, theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền: Bà T khởi kiện ly hôn với ông P là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông P có địa chỉ cư trú tại xã C, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà T – ông P kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64 ngày 10/3/2024, nên xem là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà T có đơn xét xử vắng mặt nhưng bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông P không quan tâm gia đình, thường xuyên gây cãi và bỏ nhà đi rồi ly thân với bà, gia đình bỏ mặt không hàn gắn, hiện tình cảm vợ chồng không còn.

Qua trình bày của bà T, mặc dù ông P đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của bà T, nhưng ông không có ý kiến phản đối, chứng tỏ trình bày của bà T là có căn cứ, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm, gia đình hàn gắn nhưng không thành, nên khả năng đoàn tụ lại không thể, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T.

[4]. Về quan hệ con chung: Xét thấy, cháu Đỗ Huỳnh Phi H do bà T nuôi, tính đến nay cháu P1 chưa đủ 03 tuổi rất cần sự nuôi dưỡng và chăm sóc của người mẹ, nên việc bà T yêu cầu tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp, HĐXX chấp nhận yêu vầu này của bà.

HĐXX cũng giải thích cho bà T biết: Trong thời gian nuôi con, bà T cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà T không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T khai bà với ông P không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông P vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cập ở phần quyết định. Nếu sau này ông P có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung và có nợ chung và ông P có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Bà Huỳnh Ngọc T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Ngọc T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Ngọc T được ly hôn với ông Đỗ Trọng P.

Về quan hệ con chung: Bà Huỳnh Ngọc T được tiếp tục nuôi con chung tên Đỗ Huỳnh P1, sinh ngày 10/3/2024, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Huỳnh Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023806 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (bà T nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/7/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAT;
  • - VKS huyện Chợ Mới;
  • - THADS Chợ Mới để thi hành.
  • - UBND xã Cù Lao Giêng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - vp.

Lê Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 01/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Thơm xin ly hôn với ông Phúc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger