TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-PT Ngày 20/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Truyền
Các Thẩm phán: 1. Bà Lý Thị Thúy
2. Ông Hoàng Anh Tuấn
-Thư ký phiên toà: Bà Lục Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Lê Thị D - Kiểm sát viên.
Ngày 19/3/2025 và ngày 20/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh B mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 04/TLPT-HNGĐ, ngày 17/10/2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST, ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn bị kháng cáo, kháng nghị
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số:01/2025/QĐ-PT, ngày 20/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn D1 - sinh năm 1977. Trú tại: Tổ A thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Vy Hiệp C - Luật sư cộng sự của Văn phòng L3. Có mặt
- Bị đơn: Bà Trần Thị T - sinh năm 1985. Trú tại: Tổ A thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. có mặt
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn V (A). Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: ông Đào Vũ H - chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N2- Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hấu Phúc H1 - Phó giám đốc Ngân hàng N2- Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
- + Bà Vũ Thị M, sinh năm 1958. Trú tại: Tổ A thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
- + Bà Phan Thị Thanh H2, sinh năm 1980. Trú tại: Tổ A phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. có mặt
- + Bà Phan Thị Kim D2, sinh năm 1983. Trú tại: Tổ A phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
- + Bà Trần Thị T1, sinh năm 1983. Trú tại xóm A xã H, huyện G, tỉnh Nam Định. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh Phan Văn D1 và chị Trần Thị T được tìm hiểu tình cảm với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương, ngày 27/6/2017 có đến đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhà ở của bố anh D1 là ông Phan Thanh L và mẹ anh D1 là bà Vũ Thị M tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu hòa thuận, cùng nhau làm ăn kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc đến năm 2022. Vào tháng 7 năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cuộc sống không hạnh phúc, không ăn ở cùng nhau, không quan tâm chăm sóc yêu thương lẫn nhau. Vợ chồng chính thức sống ly thân từ tháng 9 năm 2022 đến nay. Nay anh D1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Dũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
Về con chung:
Anh Phan Văn D1 trình bày: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản công khai chứng cứ ngày 14/12/2022 anh Phan Văn D1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản công khai chứng cứ ngày 21/11/2023 anh D1 đề nghị Toà án giải quyết bổ sung về tài sản chung của vợ chồng gồm có;
- Khoản tiền đầu tư mua quầy và dụng cụ làm dịch vụ Spa tại chợ B Lũng là: 170.000.000 đồng và đã thanh lý được số tiền là: 80.000.000 đồng.
- Khoản tiền thuê nhà tầng 1 năm 2020, 2021 là: 81.000.000 đồng.
Ngày 09/5/2024 anh Phan Văn D1 đã rút 02 yêu cầu là: Khoản cho thuê nhà tầng 1 năm 2020, 2021 và khoản tiền mua quầy và dụng cụ làm dịch vụ Spa tại chợ B Lũng.
Về nợ chung:
Trong đơn khởi kiện anh Phan Văn D1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại biên bản công khai chứng cứ ngày 21/11/2023
anh D1 đề nghị Toà án giải quyết bổ sung về khoản nợ chung của khoản vay ngân hàng là: 100.000.000 đồng ngày vay 23/11/2021.
2. Bị đơn chị Trần Thị T quá trình tố tụng và tại phiên tòa trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị T và anh Phan Văn D1 được tìm hiểu tình cảm với nhau từ cuối năm 2016, sang đầu năm 2017 chị T đi lại ăn ở với anh D1, nhưng đến ngày 27/6/2017 giữa anh D1 và chị T mới đi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Sau khi có đăng ký kết hôn được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và vợ chồng chung sống cùng với gia đình, nhà ở của bố, mẹ anh D1. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, lý do anh D1 làm đơn ly hôn là do mẹ chồng bà Vũ Thị M và em gái chồng chị Phan Thị Thanh H2 không đồng ý việc chị T đề xuất với anh D1 về quê thăm hỏi bố chị T đang ốm nằm viện. Vì lý do này, thì anh D1 mới làm đơn ly hôn, nên chị T không nhất trí ly hôn anh D1. Chị T xác định vẫn còn tình cảm với anh D1, mong muốn anh D1 quay về đoàn tụ, chung sống với nhau. Tuy nhiên tại phiên toà chị T đồng ý ly hôn anh D1.
Về con chung:
Chị Trần Thị T trình bày: Giữa chị T và anh D1 không có con chung. Tuy nhiên, anh D1 có 01 con riêng, chị T có 01 con riêng, nhưng chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung:
Chị Trần Thị T xác định vợ chồng có 01 (Một) căn nhà xây năm 2017 trên đất của bố chồng là ông Phan Thanh L (Ông L đã chết ngày 23/5/ 2021) và mẹ chồng là bà Vũ Thị M. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung là ngôi nhà và các khoản đóng góp tiền công xây, tiền vật liệu của căn nhà xây năm 2017 và khoản trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng khoản vay ngày 30/6/2017. Cụ thể chị T trình bày về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng như sau:
Về tài sản riêng của chị T:
Khoảng tháng 4/2017 chị T đưa số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) cho bố chồng là ông Phan Thanh L, địa điểm giao nhận tiền tại hiên nhà ở của ông L, chị T là người giao tiền, ông L là người nhận tiền thời gian khoảng 10 giờ sáng. Tại thời điểm giao nhận tiền có mặt anh D1, bà M, việc giao nhận tiền không viết giấy tờ đến nay đã lâu nên chị T không nhớ ngày cụ thể, ông L nhận tiền rồi cất tiền vào trong két. Mục đích chị T giao tiền cho ông L là để xây nhà.
Về tài sản chung của vợ chồng:
Chị T trình bày giữa chị T và anh D1 trước trong thời kỳ hôn nhân từ ngày 27/6/2017 vợ chồng đã tạo lập được 01 (Một) ngôi nhà 02 tầng, xây năm 2017 là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng. Nhưng chị T không yêu cầu chia đôi giá trị của ngôi nhà. Chị T yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng là bằng tiền mặt đã bỏ ra xây ngôi nhà năm 2017 tổng số tiền là: 1.021.275. 206 đồng ( Một tỷ, không trăm hai mươi mốt triệu hai trăm bẩy mươi lăm nghìn hai trăm linh sáu đồng). Chị T yêu cầu được hưởng 70% = 717.020.165 đồng ( Bẩy trăm mười bẩy triệu không trăm hai mươi nghìn một trăm sáu lăm đồng). Anh Dũng được 30% = 304.255.042 đồng ( Ba trăm linh tư triệu hai
trăm năm năm nghìn không trăm bốn hai đồng. Chị T diễn giải tài sản chung của vợ chồng được tính bằng tiền mặt bao gồm các khoản sau;
- Khoản tiền trả gốc và lãi cho Ngân hàng là: 787.265.506 đồng.
- Khoản tiền thanh toán toàn bộ hệ thống cửa kính của ngôi nhà là: 76.230.000 đồng.
- Khoản tiền sửa nhà năm 2022 là: 37.779.700 đồng.
( Tổng số tiền vợ chồng bỏ ra để thi công xây dựng ngôi nhà 02 tầng là: 901.275.206 đồng).
- Khoản tiền bà M cho thuê nhà tầng 2 từ tháng 7/2019 là: 120.000.000 đồng.
- Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ ngày 21/11/2023 chị Trần Thị T yêu cầu Toà án giải quyết bổ sung về tài sản chung của vợ chồng là khoản tiền thiết bị vệ sinh của ngôi nhà là 28.400.000 đồng.
Về nợ chung:
Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ ngày 21/11/2023 chị Trần Thị T yêu cầu Toà án giải quyết bổ sung về nợ chung là khoản vay của chị Trần Thị T1 là: 170.000.000 đồng để trả Ngân hàng ngày 09/02/2021.
Ngày 03/6/2024 chị T rút yêu cầu khoản tiền đưa cho ông L là 100.000.000 đồng và rút một phần yêu cầu khoản tiền bà M thuê nhà là: 120.000.000 đồng, đề nghị Toà giải quyết số tiền bà M cho thuê tầng 2 ngôi nhà là: 27.000.000 đồng.
3. Phần trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
3.1. Bà Vũ Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh Dũng và chị T tìm hiểu tình cảm từ cuối năm 2016, đầu năm 2017 sau ngày mãn tang vợ của D1 là tháng 3/2017 được khoảng 2 tuần thì chị T cứ tự đi lại và đến nhà bà M ở, nhưng đến ngày 27/6/2017 mới đăng ký kết hôn theo quy định, đến tháng 8/2017 thì hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Quan hệ hôn nhân giữa anh D1 và chị T là hợp pháp. Anh Dũng đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn chị T bà M không có ý kiến gì.
Về con chung:
Bà Vũ Thị M trình bày: Giữa anh D1 và chị T không có con chung.
Về tài sản:
Bà Vũ Thị M trình bày: Trong khoảng thời gian chị Trần Thị T tự đến qua lại với gia đình tới ngày đăng ký kết hôn 27/6/2017 đến nay. Chị T và anh D1 có tài sản riêng, tài sản chung gì với nhau, bà M xin được diễn giải như sau:
Về tài riêng của chị T:
Chị T nói có tài sản riêng là 100.000.000 đồng đưa cho ông L để xây nhà: Bà M khẳng định từ ngày chị T đến làm dâu không đưa cho vợ chồng ông bà đồng nào để xây ngôi nhà tại thời điểm xây năm 2017.
Về tài sản chung:
Chị T nói bà M có đứng ra cho học sinh thuê tầng 2 của ngôi nhà thu được số tiền thuê 120.000.000đ là không đúng và chị T xác định số tiền thuê nhà tầng 02 là tài sản chung của vợ chồng D1, T bà M không đồng ý.
Về ngôi nhà 02 tầng tại tổ A, thị trấn B:
có sổ bìa đỏ mang tên ông Phan Thanh L và bà Vũ Thị M, ngôi nhà 02 tầng, tầng trên lợp bằng mái tôn được xây dựng thi công
từ tháng 2 đến tháng 6 2017 là hoàn thành. Toàn bộ liên quan đến việc xây dựng đều do ông Phan Thanh L đứng lên làm, tất cả các khoản tiền công xây, tiền vật liệu đều do ông L chi trả bà M không biết. Chị T về và kết hôn với anh Phan Văn D1 ngày 27/6/2017 lúc đấy nhà đã xây xong và không cơi nới gì thêm.
Về khoản Hợp đồng tín dụng vay, trả khoản vay ngân hàng Nông nghiệp:
là hoàn toàn do ông L đứng vay và trả hết nợ ngân hàng.
Biên bản lấy lời khai ngày 29/5/2023 bà M trình bày: Mục đích ông L xây nhà là để cho thuê, trước thời điểm xây ngôi nhà này thì nhà bà M, ông L có 09 phòng trọ song song với ngôi nhà xây mới. Hiện nay bà M không có sổ sách theo dõi ghi chép việc ông L chi trả tiền công, tiền vật liệu xây nhà. Mức thu nhập 09 phòng trọ là 6.000.000đ trên một tháng là của vợ chồng ông bà. Số tiền 600.000.000₫ vay ngân hàng ông L đưa cho bà M cầm giữ để trả đâu là bà M đưa ông L trả đấy nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu lần, bà M có được đưa tiền cho chị Tốt, nhưng không nhớ bao nhiêu lần, mỗi lần đưa bao nhiêu tiền, vì không có giấy tờ, số tiền bà M đưa chị Tốt nằm trong số tiền vay ngân hàng 600.000.000₫ ngày 30/6/2017. Đưa tiền cho chị T đi mua sắm thiết bị vệ sinh, điện nước, máy tập G. Sau ngày kết hôn 27/6/2017 chị T làm nghề tập Gym không hiệu quả, lại đầu tư mua quầy và dụng cụ làm dịch vụ Spa chăm sóc sắc đẹp tại chợ thị trấn B hàng tháng chị Tốt thu nhập được bao nhiêu tiền bà M không biết. Ông L cũng như bà M hàng tháng quanh quẩn ở nhà chăn nuôi mấy con lợn, con gà, cho thuê phòng trọ để sinh nhai, ngoài ra ông L, bà M không có khoản thu nhập nào khác. Nay chị T yêu chia số tiền 787.000.000 mà ông L đứng ra thanh toán cả gốc và lãi cho Ngân hàng bà M không nhất trí.
Biên bản lấy lời khai ngày 26/7/2023 bà M trình bày: Chị T không có tài sản là vật hoặc tiền là tài sản riêng của chị T đem đến hoặc đưa cho ai trong gia đình, từ năm 2017 chị T kết hôn với anh D1 đến nay giữa chị T và anh D1 không có tài sản gì chung với nhau và vợ chồng D1, T không có tài gì chung với vợ chồng ông bà. Chị Phan Thị Thanh H2 và Phan Thị Kim D2 không đóng góp công sức, tiền bạc xây nhà năm 2017 và không có tài sản gì chung với vợ chồng ông bà. Quá trình sử dụng ngôi nhà khoảng tháng 8/2017 tầng 1, tầng 2 đều tập Gym do D1, Tốt quản lý, sang năm 2018 thì tầng 1 cho thuê đánh điện tử T đứng ra ký hợp đồng, tầng 2 dạy nhảy, sang năm 2019 tầng 1 lại cho thuê bán đồ ăn uống T đứng ra ký hợp đồng, Nửa năm 2020 thì nhà để không, đến tháng 10/2022 khi anh D1 làm đơn ly hôn thì T đến ở ngôi nhà, bà M cho thuê tầng 2 từ năm 2021 đến năm 2023 tổng số cho thuê được 04 kỳ học sinh cấp 3. Đến tháng 2/2022 chị T đứng ra sơn sửa lại tầng 1, ngăn làm 02 phòng, chị T ở 01 phòng, 01 phòng cho học sinh thuê, tầng 2 bà M cho học sinh thuê. Khi ngôi nhà xây xong ông L bà M có giao cho vợ chồng D1, T đứng ra làm ăn kinh doanh phát triển kinh tế tạo thu nhập, quản lý, làm ăn thua lỗ như thế nào là do chị T anh D1. Năm 2021 bà M mới đứng ra cho học sinh thuê tầng 2 còn tầng 1 chị T vẫn quản lý, sử dụng để ở và cho thuê. Bản thân bà M không trả được đồng nào
của khoản vay 600.000.000đ và không có khoản tiền chung nào của gia đình. Bà M được biết ông L ký trả nợ gốc và lãi khoản vay 600.000.000đ vào ngày 09/02/ 2021 là trả hết nợ ngân hàng.
Bản tự khai ngày 14/8/2023 bà M trình bày: Bà trực tiếp đưa tiền mặt cho chị T 3 lần tổng số tiền 70.000.000đ, có được số tiền này là sau đám tang ông Phan Thanh L. Trong 5 năm chị T về nhà bà sinh sống trong đó 02 năm đầu làm nghề tập G, 02 năm chị T đứng ra cho thuê nhà, 02 năm dịch C1, thời gian còn lại chị T đi học về và mở dịch vụ S chăm sóc sắc đẹp tại chợ thị trấn B. Đến tháng 2/2022 chị T về căn nhà 02 tầng ở đó cho đến cuối tháng 10/2022 anh D1 làm đơn ly hôn.
Đơn đề nghị giải trình ngày 09/11/2023 của bà M trình bày như sau;
Cuối năm 2016 Dũng T2 đã đi lại tìm hiểu, T2 nói là nếu lấy nhau có điều kiện thì T2 sẽ mở phòng tập G, để có việc làm, tạo thu nhập... Do đang có đất và tiền tích luỹ được từ trước, gia đình bàn xây thêm một căn nhà để cho hai vợ chồng D1 Tốt làm nghề kinh doanh tạo thu nhập, việc xây nhà được khởi công từ tháng 2 đến tháng 6/2017 là xong, còn lại là cửa và sơn chưa xong, tại thời điểm này D1 Tốt đi đăng ký kết hôn và gia đình chuẩn bị làm đám cưới Tốt có nói sau khi cưới sẽ đăng ký kinh doanh mở phòng tập Gym cần có vốn mua dụng cụ hết khoảng 500.000.000 đồng, gia đình đã thống nhất vay ngân hàng 600.000.000 đồng để đầu tư, khi vay được tiền T2 đã đi mua dụng cụ để làm, làm được hơn năm, không có hiệu quả T2 đã bán hết dụng cụ đi để trả nợ chỉ được 180.000.000 đồng. ngoài ra Dũng T2 cho thuê tầng 1 năm đầu được 45.000.000 đồng, năm thứ hai được 36.000.000 đồng, khi không làm tập G, D1 Tốt tiếp tục đầu tư mua quầy dụng cụ làm dịch vụ Spa được hơn một năm không có hiệu quả nên đã nhượng lại quầy và dụng cụ cho người khác.
Về khoản nợ ngân hàng:
Ngày 09/02/2021 ông L ra ngân hàng tất toán toàn bộ nợ gốc lãi hơn 300.000.000 đồng cho hết nợ Ngân hàng. Số tiền ông L tất toán này có trong đó tài khoản Tốt là 295.000.000 đồng, số tiền 295.000.000 đồng này có 170.000.000 đồng là tiền vay của chị Trần Thị T1, bà M có hơn 10.000.000 đồng tiền mặt.
Về khoản vay của chị Trần Thị T1 ngày 09/02/2021 để trả Ngân hàng, sau đó bà M có đưa cho chị T2 3 lần là 70.000.000 đồng để trả nợ lần 1 ngày 28/5/2021 là 20.000.000 đồng, lần 2 ngày 31/8/2021 là 30.000.000 đồng, lần 3 23/11/2021 là 20.000.000 đồng, mục đích bà M đưa tiền cho chị T2 là để chị T2 đi trả cho chị T1. Nhưng T2 nói còn phải trả chị T1 120.000.000 đồng, lúc đó bà M có 20.000.000 đồng, gia đình bàn phải đi vay ngân hàng 100.000.000 đồng vào ngày 23/11/2021 để trả cho chị T1. Như vậy bà M và anh D1 đã đưa tiền cho chị T2 để đi trả cho chị T1 đủ số tiền: 170.000.000 đồng.
Khoản 81.000.000 đồng chị T2 đứng ra cho thuê tầng 1 năm 2020, năm 2021 là của Dũng T2, còn số tiền 27.000.000 đồng bà M cho thuê tầng 2 là của bà M không có gì sai.
Khoản 76.230.000 đồng tiền cửa kính ngày 19/6/2017 bà M đã tạm ứng 50.000.000 đồng, còn lại 26.230.000 đồng chị T2 thanh toán nốt.
Khoản 37.779.700 đồng chị T2 bỏ ra sửa nhà tầng 1. Bà M diễn giải tháng 6/2022, T2 đã cho thuê tầng 1 là 17 tháng, mỗi tháng ít nhất 3.000.000 đồng Tốt thu được 51.000.000 đồng; năm 2020 Tốt cho thuê tầng 1 được 45.000.000 đồng, năm 2021 Tốt cho thuê tầng 1 được 36.000.000 đồng. Nên số tiền 37.779. 700 đồng cho D1, T2 sử dụng vào việc sửa nhà. Còn 51.000.000 đồng T2 cho thuê tầng 1 đến nay Tốt đang giữ. Gia đình chỉ cho chị T2 sử dụng đến tết nguyên đán tháng 2/2024.
Đơn đề nghị và giải trình ngày 22/11/2023 bà M trình bày: Bà M đề nghị Toà án xem xét giải quyết thêm 02 nội dung, đó là. Việc đầu tư mua quầy và dụng cụ dụng làm dịch vụ S tại Chợ Bằng Lũng và việc Tốt cho thuê tầng 1 ngôi nhà từ tháng 5/2022 đến nay.
Biên bản lấy lời khai ngày 30/11/2023 bà M trình bày: Khoản tiền vay Ngân hàng 600.000.000 đồng ngày 30/6/2017 được sử dụng như sau;
- Mua dụng cụ tập Gym 400.000.000 đồng
- Tiền mua thiết bị vệ sinh: 28.400.000 đồng
- Tiền công xây nhà 15.000.000 đồng
- Tiền cửa kính 26.000.000 đồng
- Tiền sơn nhà 10.000.000 đồng
Ngoài ra bà M trình bày khoản tiền bán đất cho ông Lý Phương S1 ngày 18/7/2016 và bán đất cho bà Vũ Thị P ngày 08/10/2016 được tổng số tiền là 560.000.000 đồng sử dụng để xây ngôi nhà năm 2017
3.2. Chị Phan Thị Thanh H2 trình bày: Ngôi nhà 02 tầng được xây trên đất của bố mẹ và mục đích xây là để cho thuê tạo thu nhập, ngôi nhà được xây dựng khi anh D1 và chị Tốt chưa lấy nhau, sau khi anh chị lấy nhau bố mẹ cho anh chị sử dụng kinh doanh tạo thu nhập, nên cuối năm 2017 anh chị đã sử dụng để mở phòng tập G, sau đó lại cho thuê mở phòng chơi điện tử và mở quán ăn tiền thuê do chị Tốt thu và sử dụng. Ngôi nhà xây gắn liền với thửa đất của bố mẹ, không liên quan tới vợ chồng anh chị, chị H2 không có yêu cầu độc lập nào khác. Biên bản lấy lời khai ngày 01/12/2023 chị H2 trình bày: Chị H2 không có tài sản gì chung với bố mẹ.
3.3. Chị Phan Thị Kim D2 trình bày: Ngôi nhà 02 tầng được xây trên đất của bố mẹ và mục đích xây là để cho thuê tạo thu nhập, ngôi nhà được xây dựng khi anh D1 và chị T2 chưa lấy nhau, sau khi anh chị lấy nhau bố mẹ cho anh chị sử dụng kinh doanh tạo thu nhập, nên cuối năm 2017 anh chị đã sử dụng để mở phòng tập G, sau đó lại cho thuê mở phòng chơi điện tử và mở quán ăn tiền thuê do chị Tốt thu và sử dụng. Ngôi nhà xây gắn liền với thửa đất của bố mẹ, không liên quan tới vợ chồng anh chị, chị D2 không có yêu cầu độc lập nào khác.
3.4 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện C trình bày: Theo Hợp đồng tín dụng số: 8601-LAV-202101755
ngày 23/11/2021 ký giữa A huyện C tỉnh Bắc Kạn và đại diện hộ vay vốn là anh: Phan Văn D1 có tài liệu sổ giao dịch tiền vay về thanh toán nợ gốc, lãi phát sinh. Trường hợp anh Phan Văn D1 và chị Trần Thị T ly hôn, A huyện C tỉnh Bắc Kạn yêu cầu phía khách hàng thực hiện đúng các điều khoản đã ký tại Hợp đồng tín dụng số: 8601-LAV-202101755 ngày 23/11/2021.
3.5. Chị Trần Thị T1 quá trình tố tụng và trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà trình bày:
Ngày 08/02/2021 chị đang ở nhà thì vợ chồng chị T và D1 có gọi điện trao đổi việc hỏi cho chị T và anh D1 vay số tiền 170.000.000 đồng, chị T nói việc hỏi vay tiền là anh D1, chị T đã bàn bạc với bà M, nên chị T1 nhất trí cho vay số tiền 170.000.000 đồng nằm trong số tiền mà chị T1 gửi nhờ vào tài khoản chị T giữ hộ là: 302.000.000 đồng. Khi vay chị T, anh D1, bà M có nói vay để trả khoản vay ngân hàng nông nghiệp Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn ngày vay 30/6/2017. Ngày chị T1 nhất trí cho chị T vay là ngày 08/02/2021, ngày 09/02/2021 được chuyển từ tài khoản của chị T tại ngân hàng nông nghiệp chi nhánh huyện C để trả khoản nợ gốc, lãi khoản vay ngân hàng ngày 30/6/2017, không viết giấy tờ cho vay giữa chị T1 với chị T, anh D1, bà M và không nói thời hạn trả nợ, không tính lãi suất, sau khi vay chị T1 chưa có lần nào hỏi yêu cầu chị T, anh D1, bà M trả nợ, đến thời điểm chị T1 được biết chị T, anh D1 làm đơn ly hôn tại Toà án, chị T1 cùng bố đẻ là ông Trần Trọng N đến nhà anh D1 để hỏi việc nợ vay là 170.000.000 đồng, tại đây có mặt chị T, bà M, chị H2, anh D1, ông N (bố chị T) và chị T1. Qua trao đổi thì chị T1 được câu trả lời của anh D1, bà M và chị T hứa là có vay thì phải trả và sẽ trả số tiền vay là 170.000.000 đồng cho chị T1. Nhưng đến ngày 26/12/2023 Toà án lấy lời khai chị T1, chị T1 chưa nhận được đồng tiền nào của khoản cho chị T, anh D1, bà M vay. Chị T1 đề nghị anh D1 phải có trách nhiệm trả cho chị T1 số tiền vay gốc là 170.000.000 đồng.
4. Người làm chứng:
4.1. Biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2023 ông Vũ Văn N1 trình bày: Năm 2017 có hợp đồng thi công xây nhà với ông Phan Thanh L, làm lễ động thổ ngày 12/02/2017, tại thời điểm động thổ không biết ai tên là chị T, nhưng tại thời điểm thi công thấy chị T thi thoảng đi qua lại ngó nghiêng xem ngôi nhà đang xây, thời gian thi công là 6 tháng, khoảng tháng 8/2017 thì xong phần xây và có cả mái tôn tầng hai. Còn lại là cửa, sơn chưa xong do thợ khác hợp đồng với ông L riêng. Quá trình thi công ông L đứng ra trả tạm ứng và thanh toán bằng tiền mặt cho ông N1 như sau: tháng 3/2017 xây móng xong tạm ứng lần 1, khoảng tháng 5/2017 đổ mái xong tạm ứng lần 2, khoảng tháng 6/2017 tạm ứng lần 3, khoảng cuối tháng 7/2017 tạm ứng lần 4, khoảng tháng 8/2017 tạm ứng lần 5 đồng thời nghiệm thu và thanh lý hợp đồng nhưng hiện nay ông không còn giữ giấy tờ nên không nhớ mỗi lần tạm ứng là bao nhiêu tiền. Theo ông N1 cho biết ngôi nhà xây tại thời điểm năm 2017 chi phí hơn 700.000.000 đồng trở lên.
4.2. Biên bản lấy lời khai ông Lý Phương S1 ngày 04/12/2023 trình bày: Bà M và anh D1 nhờ xác nhận việc mua bán chuyển nhượng đất và tài sản trên đất ngày 18/7/2016. Tại thời điểm 2016 ông S1 nhờ ông Nông Văn T3 đứng tên bên A là đúng thực tế. Nhưng ông S1 là người trực tiếp thanh toán tiền cho ông Phan Thanh L 03 lần. Lần đầu tháng 5/2016 là 120.000.000 đồng, lần 2 tháng 6/2016 là 100.000.000 đồng, lần 3 ngày 18/7/2016 là 40.000.000 đồng
4.3. Biên bản lấy lời khai bà Vũ Thị P ngày 04/01/2024 trình bày: Tờ giấy nhượng quyền sử dụng đất do tôi ( P và anh D1) cùng là người thực hiện trên tờ giấy việc ký người giao tiền là bà Vũ Thị P người nhận tiền là anh Phan Văn D1 số tiền là 300.000.000 đồng, nhưng thực tế ngày 08/10/2016 bà P giao tiền cho ông Phan Thanh L là 130.000.000 đồng; sau đó khoảng nửa tháng hoặc một tháng thì ông L đưa giấy tờ sổ đỏ cho bà P để tự đi làm thủ tục sang tên đổi chủ bà P đưa số tiền 170.000.000 đồng cho ông L, nên giữa bà P với ông L đã thanh toán xong không có nợ nần gì nhau và giữa bà P với anh D1 cũng không có liên quan với nhau về tiền nong chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/10/2016.
Ngày 25/9/2023 Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định được ngôi nhà xây năm 2017 được xây gắn liền với thửa đất số 287, tờ bản đồ số 47, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BS 197922, ngày 31/12/2013 của UBND huyện C cấp, đứng tên hộ ông Phan Thanh L và bà Vũ Thị M là 01 ngôi nhà ống 02 tầng, xây tháng 01 năm 2017 tường xây gạch chỉ đỏ, mái lợp tôn, mặt trước và mặt sau ngôi nhà ốp đá lát nền. Xác định toàn bộ các cửa kính của ngôi nhà 02 tầng và xác định phần cải tạo diện tích sử dụng tại tầng 1 gồm 02 phòng, sử dụng tấm tôn xốp làm vách ngăn các phòng, diện tích vách ngăn khoảng 66,1m2. Chị Trần Thị T có ý kiến bổ sung đối với tấm foóc hiện nay không còn, nên không tiến hành xem xét do không còn, ngoài ra không ai có ý kiến bổ sung biên bản xem xét thẩm định tại chỗ.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh Phan Văn D1 đề nghị Tòa án giải quyết về việc tranh chấp Ly hôn, nợ chung chị Trần Thị T đề nghị Tòa án giải quyết về việc tranh chấp Tài sản chung, nợ chung Về con chung không có nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 03/6/2024 chị T rút yêu cầu đối với khoản 100.000.000 đồng và rút khoản tiền 120.000.000 đồng và yêu cầu giải quyết 27.000.000 đồng.
Ngày 09/5/2024 anh D1 yêu cầu đối với khoản tiền mua quầy và dụng cụ làm dịch vụ S tại Chợ thị trấn B và số tiền chị T có được từ việc cho thuê tầng 1 của ngôi nhà năm 2020 và 2021.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 14/2024/HNGĐ-ST,ngày 18/7/2024 của TAND huyện Chợ Đồn đã tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 33, 37, 51, 56, 57, 58, 59 của Luật hôn nhân và gia đình. Các Điều 288, 463,466,468 Bộ luật dân sự:
1. Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phan Văn D1 xin ly hôn đối với chị Trần Thị T. Chấp nhận một phần đơn yêu cầu phản tố của chị Trần Thị T đối với phần tài sản chung đối với anh Phan Văn D1 và bà Vũ Thị M.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn D1 được ly hôn chị Trần Thị T.
- - Về con chung: Không có
- - Về tài sản chung: Anh Phan Văn D1 và chị Trần Thị T có tổng số tài sản chung là 684.126.617 đồng ( Sáu trăm tám tư triệu một trăm hai sáu nghìn sáu trăm mười bẩy đồng). Anh Phan Văn D1 được chia trong khối tài sản chung bằng tiền là: 342.063.308 đồng ( Ba trăm bốn mươi hai triệu không trăm sáu ba nghìn ba trăm linh tám đồng). Chị Trần Thị T được chia trong khối tài sản chung bằng tiền là: 342.063.308 đồng ( Ba trăm bốn mươi hai triệu không trăm sáu ba nghìn ba trăm linh tám đồng). Anh Phan Văn D1 phải nghĩa vụ trích chia trả trong khối tài sản chung bằng tiền là: 342.063.308 đồng ( Ba trăm bốn mươi hai triệu không trăm sáu ba nghìn ba trăm linh tám đồng) cho chị Trần Thị T.
Bà Vũ Thị M, anh Phan Văn D1, chị Trần Thị T có tổng số tài sản chung là 27.000.000 đồng ( Hai mươi bẩy triệu đồng ). Bà Vũ Thị M được chia trong khối tài sản chung bằng số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng), anh Phan Văn D1 được chia trong khối tài sản chung bằng số tiền là 9.000.000 đồng(Chín triệu đồng), chị Trần Thị T được chia trong khối tài sản chung bằng số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Bà Vũ Thị M có nghĩa vụ trích chia trả cho anh Phan Văn D1 bằng số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) và có nghĩa vụ trích chia trả cho chị Trần Thị T bằng số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng)
- - Về nợ chung: Anh Phan Văn D1 và chị Trần Thị T phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền là: 170. 000.000 đồng (Một trăm bẩy mươi triệu đồng) cho chị Trần Thị T1. Cụ thể, anh Phan Văn D1 phải có trách nhiệm trả số tiền là: 85.000.000 đồng (T4 mươi lăm triệu đồng ) cho chị Trần Thị T1, chị Trần Thị T phải có trách nhiệm trả số tiền là 85.000.000 đồng (T4 mươi lăm triệu đồng ) cho chị Trần Thị T1. Anh Phan Văn D1, chị Trần Thị T, bà Vũ Thị M phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N2 và Phát triển nông thôn – Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn số tiền nợ gốc là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và lãi phát sinh. Cụ thể, anh Phan Văn D1 phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và lãi phát sinh cho Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn, chị Trần Thị T phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và lãi phát sinh cho Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn, bà Vũ Thị M phải có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng ( Hai mươi triệu đồng) và lãi phát sinh cho Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh huyện C, tỉnh Bắc Kạn theo HĐTD đã ký kết.
Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ phần yêu cầu giải quyết về tài sản chung của anh Phan Văn D1 đối với khoản tiền đầu tư mua quầy
và dụng cụ làm dịch vụ (Spa) chăm sóc sắc đẹp tại chợ thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn và số tiền chị Trần Thị T có được từ việc cho thuê tầng 1 ngôi nhà năm 2020, 2021. Đình chỉ yêu cầu giải quyết về tài sản riêng đối chị Trần Thị T đối với số tiền là: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị Trần Thị T đối với số tiền bỏ ra sửa nhà là: 37. 779.700 đồng (Ba mươi bẩy triệu bẩy trăm bẩy chín nghìn bẩy trăm đồng).
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/7/2024 chị Trần Thị T kháng cáo một phần bản án về chia tài sản với nội dung: Phần tài sản được hưởng bao gồm khoản trả nợ gốc và lãi cho ông Phan Văn L1 với số: 619.617.000 đ và tiền chi trả hệ thống nhôm kính tại cửa hàng L4 với số tiền: 50.000.000 đ và tiên chi trả tiền thiết bị vệ sinh, gạch chống trơn, gạch ốp nền nhà vệ sinh với số tiền: 15.000.000 đ và khoản tiền bà Vũ Thị M có được từ việc cho học sinh thuê tầng 2 với số tiền: 27.000.000 đ, chị T kháng cáo yêu cầu được hưởng 70% và anh Phan Văn D1 được hưởng 30% trong tổng số tài sản nêu trên.
Về nợ chung:
Đối với khoản vay ngày 23/11/2021 với số tiền: 100.000.000 đ là khoản vay không dùng vào mục đích trả nợ chung của vợ chồng, chị T kháng cáo với nội dung không đồng ý với nghĩa vụ trả nợ: 20.000.000 đ.
Ngày 30/7/2024, anh Phan Văn D1 kháng cáo một phần bản án về chia tài sản chung với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh D1 phải thanh toán cho chị Trần Thị T đối với khoản trả nợ cho Ngân hàng với số tiền 619.126.617 đ, trong khoản trả nợ ngân hàng đã có số tiền: 170.000.000 đ (một trăm bảy mươi triệu đồng) vay của chị Trần Thị T1, Bản án sơ thẩm buộc anh D1 và chị T liên đới trả cho chị Trần Thị T1 số tiền: 170.000.000 đ, như vậy số tiền đã trả của Ngân hàng chỉ có: 449.126.617 đồng (619.126.617 đ – 170.000.000 đ).
Đối với khoản tiền: 81.000.000 đ là khoản tiền chị T đã cho thuê tầng 1 trong các năm 2020 và năm 2021, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ngày 09/5/2024 anh D1 rút 02 yêu cầu về khoản tiền cho thuê tầng 1 và tiền mua quầy, dụng cụ làm dịch vụ SPA là không đúng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết số tiền: 81.000.000 đ này.
Đối với số tiền đã trả tiền làm cửa kính của nhà Liên P1 với tổng số tiền: 76.230.000 đ, trong đó có 50.000.000 đ đã được bà Vũ Thị M trực tiếp tạm ứng cho chị L2 và số tiền còn lại: 26.230.000 đ là số tiền lấy từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017, do vậy số tiền 76.230.000 đ không phải là tài sản chung của vợ chồng anh D1.
Ngoài ra tiền mua dụng cụ tập Gym vào các ngày 28/7/2017 và ngày 10/8/2017 với số tiền: 401.000.000 đ có nguồn gốc từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017, sau đó làm ăn không hiệu quả đến năm 2019 thanh lý được số tiền: 180.000.000 đ và số tiền này đã trả nợ cho Ngân hàng.
Khoản vay ngân hàng với số tiền: 100.000.000 đ vào ngày 23/11/2023, đến ngày 30/9/2023 bà Vũ Thị M đã trả được gốc với số tiền: 40.000.000 đ và lãi 15.939.000 đ nay còn gốc với số tiền: 60.000.000 đ và lãi tính đến ngày 30/7/2024 là: 5.250.000 đ, đến thời điểm hiện nay cả gốc và lãi được tính với số tiền: 121.189.000 đ, nên buộc chị T có trách nhiệm trả gốc và lãi ít nhất với số tiền: 40.000.000 đ, anh D1 và bà Vũ Thị M phải trả số tiền: 81.189.000 đ.
Ngày 30/7/2024, bà Vũ Thị M kháng cáo một phần bản án với nội dung:
Đối với khoản tiền: 81.000.000 đ là khoản tiền chị T đã cho thuê tầng 1 trong các năm 2020 và năm 2021, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ngày 09/5/2024 anh D1 rút 02 yêu cầu về khoản tiền cho thuê tầng 1 và tiền mua quầy, dụng cụ làm dịch vụ SPA là không đúng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết số tiền: 81.000.000 đ này.
Đối với số tiền đã trả tiền làm cửa kính của nhà Liên P1 với tổng số tiền: 76.230.000 đ, trong đó có 50.000.000 đ đã được bà Vũ Thị M trực tiếp tạm ứng cho chị L2 và số tiền còn lại: 26.230.000 đ là số tiền lấy từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017, do vậy số tiền 76.230.000 đ không phải là tài sản chung của vợ chồng anh D1.
Ngoài ra tiền mua dụng cụ tập Gym vào các ngày 28/7/2017 và ngày 10/8/2017 với số tiền: 401.000.000 đ có nguồn gốc từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017, sau đó làm ăn không hiệu quả đến năm 2019 thanh lý được số tiền: 180.000.000 đ và số tiền này đã trả nợ cho Ngân hàng.
Khoản vay ngân hàng với số tiền: 100.000.000 đ vào ngày 23/11/2023, đến ngày 30/9/2023 bà Vũ Thị M đã trả được gốc với số tiền: 40.000.000 đ và lãi 15.939.000 đ nay còn gốc với số tiền: 60.000.000 đ và lãi tính đến ngày 30/7/2024 là: 5.250.000 đ, đến thời điểm hiện nay cả gốc và lãi được tính với số tiền: 121.189.000 đ, nên buộc chị T có trách nhiệm trả gốc và lãi ít nhất với số tiền: 40.000.000 đ, anh D1 và bà Vũ Thị M phải trả số tiền: 81.189.000 đ.
Ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm số 14/20224/HNGĐ-ST, ngày 18/7/2024 của TAND huyện Chợ Đồn đối với phần chia tài sản chung và án phí phần chia tài sản chung đề nghị TAND tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm theo hướng: căn cứ Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Hủy một phần gồm phần chia tài sản chung và án phí chia tài sản chung của Bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
-Phía Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn trình bày: Ngôi nhà 02 tầng xây dựng năm 2017 trên thửa đất tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn được xây dựng vào khoảng tháng 2 năm 2017 (âm lịch) và đến thời điểm kết hôn với chị Trần Thị T vào ngày 26/7/2017, hiện trạng ngôi nhà đã xây xong phần thô của tầng 2, đang hoàn thiện và đến tháng 8 năm 2017 thì hoàn thiện ngôi nhà, toàn bộ chi phí nhân công, vật liệu là của bố mẹ đẻ là ông Phan
Thanh L và bà Vũ Thị M, vợ chồng anh D1 không đóng góp nào và anh D1 không được trả tiền nhân công, vật liệu xây dựng liên quan đến ngôi nhà trên và giữa nguyên nội dung kháng cáo.
Bị đơn chị Trần Thị T trình bày: Toàn bộ số tiền vay của Ngân hàng với số tiền: 600.000.000 đ ngày 30/6/2017 là khoản vay do vợ chồng chị T nhờ ông Phan Thanh L đứng ra vay để làm ngôi nhà 02 tầng tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, ngôi nhà trên được xây dựng vào khoảng tháng 5 năm 2017 dương lịch đến thời điểm ngày 27/7/2017 (thời điểm kết hôn) lúc đó nhà đã xây xong tầng 1 và đến tháng 8 năm 2017 mới hoàn thiện và chuyển vào sinh sống, toàn bộ số tiền vay ngân hàng do ông Phan Thanh L quản lý và chi trả cho vật liệu xây dựng, nhân công không đưa cho chị Trần Thị T quản lý, ngoài ra chị T có tiền nhân công trả lần cuối cho anh Vũ Văn N1 với số tiền khoảng 15.000.000 đ, chị T khẳng định ngôi nhà 02 tầng là tài sản chung của vợ chồng với các lý do vợ chồng ông Phan Thanh L tại thời điểm cuối năm 2016 còn phải trả khoản nợ của Ngân hàng số tiền khoảng: 500.000.000 đ, nguồn thu nhập của vợ chồng ông L từ tiền thuê phòng khoảng 5.400.000 đ và từ việc hoạt động chăn nuôi lẻ không đủ điều kiện để xây nhà, chị T có thu nhập hàng tháng trung bình khoảng 100 triệu – 150 triệu đồng/tháng từ hoạt động phân phối sản phẩm, từ hoạt động SPA và các hoạt động kinh doanh khác.
- + Đối với số tiền đã trả tiền làm cửa kính của nhà Liên P1 với tổng số tiền: 76.230.000 đ là số tiền của chị T rút ra từ tài khoản và khoản tiền mặt của chị T có riêng để trả, căn cứ cho khoản tiền này là hóa đơn đứng tên chị Trần Thị T và lời khai của chị L2 trong vụ án.
- + Đối với số tiền: 28.400.000 đ là tiền gạch và thiết bị vệ sinh là khoản tiền rút ra từ tài khoản và khoản tiền mặt của chị T có riêng để trả, căn cứ hóa đơn đứng tên chị Trần Thị T.
Do các nguồn tiền đều chủ yếu do chị Trần Thị T tạo lập do vậy chị T yêu cầu được chia tương ứng với 70% x684.126.617 đồng và anh D1 được hưởng với số tiền: 30% x 684.126.617 đồng.
- + Khoản tiền bà Vũ Thị M có được từ việc thuê tầng 2 ngôi nhà với số tiền: 27.000.000 đ, yêu cầu được chia cho chị Trần Thị T ½ x 27.000.000 đ.
- + Khoản vay của Ngân hàng ngày 23/11/2021 với số tiền: 100.000.000 đ không đồng ý trả nợ do khoản tiền này anh D1 vay dùng vào việc cá nhân của của anh D1 không dùng vào mục đích trả nợ chung của hai vợ chồng.
- + Đối với số tiền: 81.000.000 đ theo như anh D1 trình bày là tiền thuê nhà tại tầng A, chị T khai trên thực tế hiện nay không có khoản tiền này, vì tiền thuê nhà đã dùng vào việc sửa xe, chi tiêu hàng ngày và trên thực tế bên thuê cũng không trả đầy đủ số tiền theo hợp đồng đã ký kết.
-Bà Vũ Thị M tại phiên tòa cung cấp quyển sổ ghi chép các khoản liên quan đến ngôi nhà 02 tầng tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn trong đó ngôi nhà được xây dựng từ tháng 3 âm lịch năm 2017 đến thời điểm ngày 27/6/2017 khi vợ chồng anh D1 kết hôn hiện trạng ngôi nhà đã xây xong tầng 2 còn hoàn thiện nhà
đến tháng 8 năm 2017 và quá trình trả nhân công chủ yếu do ông Phan Thanh L trực tiếp thanh toán, tuy nhiên cũng có những khoản do bà Vũ Thị M trực tiếp thanh toán, ông Vũ Văn N1 là người thi công và tiền vật liệu được mua với ông T5 trong sổ ghi chép có xác nhận đầy đủ thời gian nhận tiền và có chữ ký của ông N1, ông T5. Nguồn tiền xây nhà do vợ chồng bà đã tích lũy có được trước đó không phải là tài sản chung của vợ chồng anh D1.
- + Đối với khoản vay của Ngân hàng N2 chi nhánh huyện C vào ngày 30/6/2017 với số tiền: 600.000.000 đ (sáu trăm triệu đồng) là khoản vay do ông Phan Thanh L đứng ra vay và đưa cho vợ chồng anh D1 để mua dụng cụ tập G và dùng trả tiền làm cửa kính của nhà Liên P1 với: 26.230.000 đ là số tiền lấy từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017, do trước đó bà Vũ Thị M đã tạm ứng 50.000.000 đ nên tại thời điểm thanh toán ghi hóa đơn cho chị Trần Thị T với tổng số tiền: 76.230.000 đ
- +Đối với số tiền: 28.400.000 đ là tiền gạch và thiết bị vệ sinh nguồn gốc số tiền này được lấy từ khoản vay từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017.
- + Ngoài ra tiền mua dụng cụ tập Gym với số tiền: 401.000.000 đ có nguồn gốc từ khoản vay của Ngân hàng ngày 30/6/2017, sau đó làm ăn không hiệu quả đến năm 2019 thanh lý được số tiền: 180.000.000 đ và số tiền này đã trả nợ cho Ngân hàng.
- +Đối với khoản tiền: 81.000.000 đ là khoản tiền chị T đã cho thuê tầng 1 trong các năm 2020 và năm 2021, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ngày 09/5/2024 anh D1 rút 02 yêu cầu về khoản tiền cho thuê tầng 1 và tiền mua quầy, dụng cụ làm dịch vụ SPA là không đúng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết số tiền: 81.000.000 đ này.
- + Đối với khoản tiền bà M đứng ra cho thuê tầng 2 của ngôi nhà được số tiền 27.000.000 đ nhưng các khoản tiền này dùng vào việc chi tiêu hàng ngày nên trên thực tế không có khoản tiền này.
- + Tại thời điểm ông Phan Thanh L ốm, chị Trần Thị T có đề nghị tất toán các khoản nợ với Ngân hàng vào ngày 09/02/2021 và trong số tiền này có khoản vay của chị Trần Thị T1, sau khi ông L chết, bà Vũ Thị M có đưa tổng số tiền: 70.000.000 đ cho chị T để trả nợ cho chị T1 nhưng chị T nói còn thiếu nên ngày 23/11/2021 có vay thêm số tiền: 100.000.000 đ đưa cho chị T đề trả khoản nợ của chị T1.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên nội dung kháng nghị.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đề nghị:
Về thủ tục tố tụng:
Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án và của người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ khoản 3, Điều 308/BLTTDS đề nghị Hội đồng xét xử Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Sau khi tuyên án sơ thẩm ngày 18/7/2024, Anh Phan Văn D1, bà Vũ Thị M và chị Trần Thị T kháng cáo, đơn kháng cáo trong thời hạn quy định, hình thức, nội dung phù hợp với quy định pháp luật và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định nên kháng cáo được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn ban hành kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-HNGĐ, ngày 16/8/2024 về việc hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST,ngày 18/7/2024 đối với phần chia tài sản chung và án phí phần chia tài sản chung trong thời hạn quy định được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét kháng cáo, kháng nghị thấy rằng:
[2.1]-Tại phiên tòa bà Vũ Thị M trình bày cho rằng ngôi nhà 02 tầng xây năm 2017 tại tổ A, thị trấn B, huyện C có được từ nguồn tiền tích luỹ của hai vợ chồng bà M, vợ chồng anh D1 không có đóng góp trong khối tài sản này và cung cấp quyền sổ ghi chép chi tiêu về nhân công, vật liệu xây dựng, thời gian, số tiền cụ thể và chữ ký của người thi công, bên cung cấp vật liệu đây là chứng cứ mới được cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm, qua xem xét thời điểm trả tiền nhân công, vật liệu có thời điểm diễn ra trước ngày 27/6/2017 (thời điểm vợ chồng anh D1 kết hôn) và trước thời điểm vay Ngân hàng ngày 30/6/2017, có một số mục được thanh toán sau thời điểm vợ chồng anh D1 đã kết hôn.
Chị T có khai nhận trước thời điểm kết hôn ngày 27/6/2017 có đi lại nhà anh D1 và xác định tiến đến hôn nhân với anh D1 nên việc thanh toán nhân công, vật liệu xây ngôi nhà 02 tầng tại tổ A, thị trấn B có từ nguồn từ tiền của chị Trần Thị T rút từ tài khoản số 32042005117927 và tài khoản số 8601666565666 của Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đứng tên chị Trần Thị T và tiền mặt của chị T.
Như vậy cần thiết yêu cầu các đương sự cung cấp các chứng cứ để chứng minh và tiến hành thu thập các chứng cứ về nguồn tiền đã trả nhân công, vật liệu làm nhà căn cứ vào sổ ghi chép của bà M và sổ theo dõi công nợ của bên thi công và bên cung cấp vật liệu, lấy lời khai của phía thi công công trình, lời khai của bên cung cấp vật liệu để làm rõ ai là người thanh toán các khoản này? Số tiền? thời điểm thanh toán? Tiến độ hoàn thành công trình tại các điểm thanh toán? Trong đó cần xem xét thời điểm ngày 26/7/2017 và ngày 30/7/2017 tình trạng hoàn thiện của ngôi nhà và cần thiết yêu cầu Ngân hàng cung cấp Bản sao kê liên quan đến tài khoản của chị Trần Thị T để đối chiếu thời gian rút tiền với thời gian thanh toán các khoản nhân công, vật liệu xây dựng.
Sau thời điểm vay ngân hàng ngày 30/6/2017, căn cứ hóa đơn ngày 10/8/2017 và ngày 28/7/2017 mua thiết bị tập Gym với tổng số tiền: 401.100.000 đ, ngoài ra phần không có hóa đơn khoảng hơn 100 triệu đồng, cần yêu cầu anh Phan Văn D1 và chị Trần Thị T chứng minh nguồn tiền để chi trả cho cho thiết bị tập Gym.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định toàn bộ số tiền vay Ngân hàng ngày 30/6/2017 với số tiền: 600.000.000 đ (sáu trăm triệu đồng) dùng vào việc trả nhân công, vật liệu xây dựng chưa có căn cứ vững chắc.
[2.2].Theo quyết định của bản án Tòa án cấp sơ thẩm xác định khoản tiền đã trả cho Ngân hàng với số tiền: 619.126.617 đồng (bao gồm anh D1 trả số tiền: 5.425.000 đ, chị T trả cho Ngân hàng: 318.701.617 đồng và khoản tiền: 295.000.000 đ chị T đã chuyển vào tài khoản của Ngân hàng trả nợ) và số tiền trả nhôm kính cho cơ sở Liên Phong với số tiền: 76.230.000 đ và khoản số tiền: 28.400.000 đ là tiền gạch và thiết bị vệ sinh và trên cơ sở đó xác định anh D1 được hưởng với số tiền: 342.063.308 đồng và anh Phan Văn D1 có trách nhiệm trích chia trong khối tài sản chung cho chị T với số tiền: 342.063.308 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.2.1]. Bản án sơ thẩm nhận định ngôi nhà xây dựng năm 2017 tại tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn là tài sản chung của ông L, bà M và vợ chồng anh D1 nhưng phần quyết định của bản án xác định tài sản chung của vợ chồng là khoản tiền trả nợ cho ngân hàng với số tiền: 619.126.617 đồng tài sản chung của hai vợ chồng là mâu thuẫn giữa phần nhận định và phần quyết định của bản án.
Trong trường hợp xác định xây ngôi nhà 02 tầng xây dựng năm 2017 là tài sản chung cần hướng dẫn các bên đương sự thống nhất về giá trị ngôi nhà tại thời điểm giải quyết tranh chấp, trong trường hợp các bên đương sự không thống nhất được giá trị thì cần tiến hành định giá tài sản và tuyên giao quyền sở hữu nhà và tuyên nghĩa vụ phần trích chia mới giải quyết triệt để vụ án, bản án sơ thẩm quyết định anh D1 được hưởng với số tiền với số tiền: 342.063.308 đồng nhưng không tuyên anh Phan Văn D1 được hưởng phần tài sản nào và được trích chia từ nguồn tài sản nào, anh Phan Văn D1 có trách nhiệm trích chia trong khối tài sản chung cho chị T với số tiền: 342.063.308 đồng, nhưng bản án không xác định anh Phan Văn D1 được sở hữu tài sản nào để trên cơ sở đó trích chia tiền cho chị T.
[2.2.2]. Tòa án cấp sơ thẩm xác định khoản tiền: 619.126.617 đồng là tài sản chung của hai vợ chồng đã đóng góp vào việc xây dựng ngôi nhà qua việc trả một phần khoản vay vốn tại Ngân hàng N2 và Phát triển Nông thôn- chi nhánh huyện C cũng chưa có căn cứ, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm phía chị T khẳng định trong đó có nguồn tiền vay của chị Trần Thị T1 với số tiền: 170.000.000 đ chuyển thẳng từ tài khoản cá nhân của chị T vào tài khoản thu nợ của Ngân hàng vào ngày 09/2/2021, cần tiến hành lấy lời khai của các đương sự và đối chiếu bản sao kê của Ngân hàng để làm rõ việc nguồn tiền trả nợ cho Ngân hàng
[2.2.3]. Đối với số tiền: 76.230.000 đ mua cửa kính và cửa nhôm kính của cửa hàng Liên Phong, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là khoản tiền của vợ chồng anh D1 chị T là chưa có cơ sở vì lẽ sau:
Bà M khai nhận đặt cọc số tiền này là: 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng) tại nhà của bà M khi tiến hành lắp cửa vào ngày 19/6/2017âm lịch có sổ ghi chép, Tòa án cấp sơ thẩm có tiến hành xác minh tại cửa hàng với bà Hoàng Thị L2 và được xác nhận đã thanh toán xong với số tiền: 76.230.000 đ và xuất hóa đơn bán lẻ
ngày 19/7/2019 đứng tên chị Trần Thị T lẽ ra trong trường hợp này cần tiến hành lấy lời khai của các bên đương sự về thời điểm lắp đặt cửa? khi lắp đặt cửa có phải đặt cọc trước không? ai là người trả khoản tiền đặt cọc? thời điểm trả khoản tiền đặt cọc?
[2.2.4]. Trong bản án tuyên việc trả nợ cho chị Trần Thị T1 và khoản nợ của Ngân hàng và phân chia nghĩa vụ trả nợ, cần làm rõ các yêu cầu của chị Trần Thị T1 vì ngày 26/12/2023 (BL 400) mặc dù chị T1 có trình bày không có yêu cầu độc lập nhưng đến ngày 10/7/2024, chị T1 có văn bản yêu cầu trả nợ với số tiền: 170.000.000 đ, các lời khai của chị T1 đều yêu cầu được trả nợ và chị Trần Thị T cũng yêu cầu giải quyết khoản nợ này, do đó cần làm rõ yêu cầu của các bên là yêu cầu giải quyết khoản nợ hay ghi nhận nghĩa vụ trả nợ, cũng cần làm rõ yêu cầu của Ngân hàng là yêu cầu độc lập trong vụ án hay yêu cầu ghi nhận nghĩa vụ trả nợ và trong bản án cũng cần xác định rõ việc trả nợ của hợp đồng tín dụng cụ thể nào để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đề nghị hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST, ngày 18/7/2024 đối với phần chia tài sản chung, nợ chung và án phí phần chia tài sản chung và Quyết định số: 02/2024/QĐ-SCBSBA, ngày 13/8/2024 Quyết định sửa đổi, bổ sung bản án sơ thẩm
Với các sai sót trên, Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được do vậy cần chấp nhận kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn hủy một phần của bản án sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST, ngày 18/7/2024 đối với phần chia tài sản chung, nợ chung và án phí phần chia tài sản chung và Quyết định số: 02/2024/QĐ-SCBSBA, ngày 13/8/2024 Quyết định sửa đổi, bổ sung bản án sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác được xem xét xác định khi giải quyết lại khi vụ án lại phần chia tài sản chung,
[3]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm được trả lại án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lý lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn D1, bà Vũ Thị M, chị Trần Thị T, chấp nhận kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-HNGĐ, ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B
Tuyên xử:
Hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 14/2024/HNGĐ-ST,ngày 18/7/2024 của TAND huyện C đối với phần chia tài sản chung, nợ chung và án phí phần chia tài sản chung và Quyết định số: 02/2024/QĐ-SCBSBA, ngày 13/8/2024 Quyết định sửa đổi, bổ sung bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
2. Về án phí phúc thẩm: Anh Phan Văn D1 được trả lại tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm số tiền: 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003324 – ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C
Chị Trần Thị T (do chị Vũ Thị P nộp thay) được trả lại tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm số tiền: 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003329 – ngày 14/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Bà Vũ Thị M (do anh Phan Văn D1 nộp thay) được trả lại tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm với số tiền: 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003326 – ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Các thẩm phán | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Lý Thị Thúy - Hoàng Anh Tuấn | Hoàng Hữu Truyền |
Bản án số 01/2025/HNGĐ-PT ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung
- Số bản án: 01/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bên có tranh chấp về tài sản trong thời kỳ hôn nhân
