|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2025/HC-PT Ngày 21-02-2025 V/v “Khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Anh Đào
Các Thẩm phán: Ông Trần Mạnh Dũng
Ông Nguyễn Văn Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 03/2024/TLPT-HC ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai".
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXX-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Phan Thị N, sinh năm 1962, địa chỉ: Khối phố T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người bị kiện:
- Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1; địa chỉ: Số F H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
- Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ: Khối phố T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Vĩnh N1 - Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Viết Đ – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn H, sinh năm 1957, địa chỉ: Khối phố T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Phan Thị N và người bị kiện Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người khởi kiện bà Phan Thị N trình bày:
Năm 1988, bà Phan Thị N làm đơn xin làm quán bán giải khát cải thiện đời sống trên thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 được cơ quan chức năng chấp thuận. Đến năm 1991 bà N làm đơn xin phép xây dựng nhà ở được chính quyền cho phép theo Giấy xác nhận nguồn gốc đất của xã T (nay là phường H) ngày 03/4/1999 nội dung: Thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, diện tích 776m², mục đích sử dụng: đất ở nông thôn được Nhà nước giao đất hợp pháp năm 1992. Hiện trạng thửa đất trước mùa hè năm 1988 là đất hoang có 10 ngôi mộ có chủ và các cây gai mọc dại, hiện trạng thửa đất hiện nay ở giữa là ngôi nhà đang ở diện tích khoảng 300m², bên trái ngôi nhà là sân xi măng để buôn bán, bên phải ngôi nhà là quán bán giải khát, cà phê, nước mía, nước dừa.... phần diện tích còn lại 10 ngôi mộ nằm rải rác, bà N đã thoả thuận với các chủ mộ Trần Xuân H1, Ngô Thanh T, Huỳnh Tấn H2 di dời 10 ngôi mộ trên và 01 giếng nước bà đã đổ đất cao sang ủi mặt bằng làm nơi kinh doanh.
Như vậy, bà N đã sử dụng 776m² đất để làm nhà ở và kinh doanh. Uỷ ban nhân dân (UBND) phường H xác nhận diện tích đất ở tính thuế của bà N là 200m², việc xác nhận này là không đúng với quy định tại Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Q, Luật Quản lý thuế, Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/7/2011 của Chính phủ và Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ T2. Do đó, Chi cục Thuế khu vực T1 - P đã tính thuế đất phi nông nghiệp của bà N theo xác định sai của UBND phường H và Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 ban hành Quyết định số 1682/QĐ-CCTKV ngày 02/11/2022 về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N là không đúng quy định pháp luật .
Tuy nhiên, ngày 27/6/2024, Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 có Quyết định số 1422/QĐ-CCTKV về việc thu hồi và huỷ bỏ Quyết định số 1682/QĐ-CCTKV ngày 02/11/2022 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P. Do đó, bà N tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện về yêu cầu hủy Quyết định số 1682/QĐ-CCTKV ngày 02/11/2022 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu).
Tại phiên toà, bà Phan Thị N chỉ yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T xác định lại thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 tại phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của bà Phan Thị N theo đúng quy định pháp luật.
Theo các văn bản có tại hồ sơ vụ án, người bị kiện Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P trình bày:
Ngày 02/11/2022, Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P ban hành Quyết định số 1682/QĐ-CCTKV về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu). Tuy nhiên, ngày 27/6/2024 Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1
có Quyết định số 1422/QĐ-CCTKV về việc thu hồi và huỷ bỏ Quyết định số 1682/QĐ-CCTKV ngày 02/11/2022. Bà Phan Thị N cũng đã rút yêu cầu khởi kiện về yêu cầu huỷ Quyết định số 1682/QĐ-CCTKV ngày 02/11/2022 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu). Do đó, đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Theo Văn bản số 161/UBND-VP ngày 17/7/2024, UBND phường H có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N như sau:
1. Về hồ sơ pháp lý và căn cứ để xác nhận diện tích đất ở:
Hồ sơ 64/CP: Thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, diện tích 776m²; Theo sổ mục kê ruộng đất Quyển số 1 được UBND xã T xác lập ngày 03/4/1999, tại trang số 124, thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, diện tích 776m², loại đất: Thổ cư, tên chủ sử dụng ruộng đất: Nguyễn H (chồng bà Phan Thị N). Thửa đất trên của hộ ông Nguyễn H chỉ có tên trong sổ mục kê ruộng đất, không có tên trong sổ đăng ký ruộng đất.
Thửa đất trên của hộ ông Nguyễn H và vợ Phan Thị N từ trước đến nay chưa được cơ quan Nhà nước cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 6 và Điều 7 của Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của UBND tỉnh Q về việc ban hành hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Mặt khác, căn cứ Công văn số 18/KN-VKSTC ngày 10/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc xác định lại diện tích đất ở thuộc trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp thể hiện mục đích sử dụng đất “Thổ cư” thì việc xác định diện tích đất ở 200m² để tính thuế phi nông nghiệp trong hạn mức đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 của hộ bà Phan Thị N là đảm bảo.
2. Về các loại tài liệu, giấy tờ do bà Phan Thị N cung cấp cho Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ:
- Đối với giấy xác nhận nguồn gốc đất ở và nhà ở đang sử dụng đề: “Tam Đàn, ngày 03/4/1989” do UBND xã T, thị xã T xác nhận; Qua nghiên cứu giấy xác nhận, UBND phường H nhận thấy:
+ Thứ nhất: Giấy xác nhận do bà N cung cấp là bản pho to công chứng, có dấu hiệu tẩy xóa nhiều vị trí và có nhiều nét chữ khác nhau.
+ Thứ hai: xã T được thành lập năm 1994, vì vậy giấy xác nhận ghi năm 1989 là không đúng.
+ Thứ ba: Trong giấy xác nhận ghi thửa đất số 211, tờ số 10, diện tích 776m², thông tin này trên cơ sở hồ sơ 64/CP; Tuy nhiên hồ sơ 64/CP đến năm 1999 mới được UBND xã T xác lập.
Từ những nội dung nêu trên, UBND phường H xét thấy bà Phan Thị N không thuộc trường hợp xác nhận lại diện tích đất ở theo khoản 2 Điều 8 của Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của UBND tỉnh Q.
luật.
Ủy ban nhân dân phường H đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan ông Nguyễn Học trình B:
Thống nhất với phần trình bày của bà Phan Thị N, đề nghị Toà án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ đã áp dụng khoản 1 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 1 Điều 143, Điều 165, Điều 193, Điều 204, khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của UBND tỉnh Q; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P về việc huỷ Quyết định về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu) số 1682/QĐ-CCTKV ngày 02/11/2022 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực T1 - P.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với UBND phường H, thành phố T: Buộc UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác nhận lại diện tích đất ở của bà Phan Thị N, ông Nguyễn H tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/7/2024, bà Phan Thị N có đơn kháng cáo và ngày 15/8/2024 UBND phường H, thành phố T có đơn kháng cáo; kháng cáo một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1, 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định: Bác kháng cáo của bà Phan Thị N, chấp nhận kháng cáo của UBND phường H, huỷ một phần Bản án sơ thẩm số 03/2024/HCST ngày 18/7/2024 của Toà án nhan dân thành phố Tam Kỳ về nội dung: “3. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đổi
với UBND phường H về việc yêu cầu xác nhận lại diện tích đất ở. Buộc UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác nhận lại diện tích đất ở của bà Phan Thị N, ông Nguyễn H tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam”. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án nếu có dấu hiệu của hành vi làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức thì chuyển nguồn tin tội phạm cho cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết trước khi giải quyết vụ án hành chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện bà Phan Thị N không rút đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên kháng cáo, UBND phường H giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần Bản án số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ. Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 217 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Xét kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị N và người bị kiện UBND phường H, thành phố T thì thấy:
[2.1] Về xác định yêu cầu khởi kiện và tư cách tham gia tố tụng:
Theo Đơn khởi kiện bổ sung, trình bày của bà Phan Thị N tại các Bản tự khai và tại phiên toà, xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N liên quan đến nội dung xác định lại thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 tại phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của UBND phường H. Tuy nhiên, việc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu khởi kiện với nội dung: “Buộc UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác nhận lại diện tích đất ở của bà Phan Thị N, ông Nguyễn H tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam” là không phù hợp với các nội dung liên quan đến vụ án, không đúng thẩm quyền của UBND phường H và gây nhầm lẫn về nhiệm vụ công vụ cần thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh lại nội dung yêu cầu khởi kiện được Toà án thụ lý giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N như sau: “Buộc UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác định lại thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 tại phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của bà Phan Thị N theo đúng quy định pháp luật”.
Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ ban hành Thông báo thụ lý bổ sung vụ án số 01.1/2024/TLST-HC ngày 25/3/2024 (BL 68), thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam nhưng xác định tư cách tham gia tố tụng của UBND phường H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật
Tố tụng hành chính, mà cần xác định UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam là người bị kiện. Tuy vi phạm về mặt tố tụng nhưng xét thấy tại hồ sơ vụ án, Chủ tịch UBND phường H là người đại diện theo pháp luật đã tham gia tố tụng; việc huỷ bản án sơ thẩm để thực hiện lại thủ tục tố tụng sẽ làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, không có lợi cho các đương sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh lại tư cách tham gia tố tụng của UBND phường H, xác định UBND phường H tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là Người bị kiện.
[2.2] Về nội dung:
Ngày 04/7/2021, bà Phan Thị N lập Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp kỳ tính thuế năm 2022 đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (BL 81), kê khai diện tích đất phi nông nghiệp chịu thuế tại mục [23.5] là 776m², chưa có giấy chứng nhận (mục [25]), đăng ký nộp thuế một lần trong năm (mục 6). Ngày 30/7/2021, UBND phường H xác định tại mục II/ Phần xác định của cơ quan chức năng như sau: thửa đất chịu thuế chưa có giấy chứng nhận (mục [40]), diện tích 200m² (mục [40.1]), mục đích đang sử dụng: đất ở, diện tích đất ở chịu thuế trong hạn mức là 200m² (mục [45]). Bà Phan Thị N cho rằng diện tích đất ở tính thuế tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 phải là 776m² như Giấy xác nhận nguồn gốc đất ở và nhà ở đang sử dụng ngày 03/4/1999 của UBND xã T (BL 80) đã xác nhận.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Công văn số 252/UBND ngày 01/11/2022 của UBND phường H phúc đáp Công văn số 970/CCTKV-TKNDP ngày 17/10/2022 của Chi cục Thuế khu vực T1 (BL 79) thể hiện: thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, diện tích 776m² của hộ bà Phan Thị N theo hồ sơ 64/CP là thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, diện tích 776m², loại đất: Thổ cư, tên chủ sử dụng ruộng đất: Nguyễn H (chồng bà Phan Thị N); thửa đất trên của hộ ông Nguyễn H và vợ Phan Thị N từ trước đến nay chưa được cơ quan Nhà nước cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên toà phúc thẩm, bà Phan Thị N thừa nhận từ trước đến nay, thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, diện tích 776m² hộ bà Phan Thị N đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại điểm b4 tiết 1.4 khoản 1 Điều 5 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ T2 hướng dẫn về Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:
“Diện tích đất tính thuế là diện tích đất phi nông nghiệp thực tế sử dụng
...
1.4. Hạn mức đất ở làm căn cứ tính thuế:
...
b4) Trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận thì không áp dụng hạn mức. Toàn bộ diện tích đất ở tính thuế của người nộp thuế áp dụng theo thuế suất đối với diện tích đất trong hạn mức.
Trường hợp này, đất đang sử dụng phải là đất ở theo quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành...”.
Điều 11 Luật Đất đai năm 2013Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CPngày 15/5/2014 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP06/01/2017 của Chính phủ quy định như sau:
“Điều 3. Xác định loại đất
1. Trường hợp đang sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật Đất đai thì loại đất được xác định như sau:
a) Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng;”
Như vậy, diện tích đất ở tính thuế tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 của bà Phan Thị N phải được xác định theo hiện trạng sử dụng đất vào mục đích đất ở, thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ T2. Bà Phan Thị N khởi kiện buộc UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác định lại thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của bà Phan Thị N theo đúng quy định pháp luật là có căn cứ.
UBND phường H cho rằng diện tích đất ở tính thuế của bà Phan Thị N tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 là 200m² theo hạn mức đất ở là không đúng theo các quy định nêu trên; tại hồ sơ vụ án chưa thể hiện việc UBND phường H xác định diện tích đất ở theo hiện trạng sử dụng và quy hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; còn bà Phan Thị N cho rằng diện tích đất ở tính thuế của hộ bà là 776m² nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh toàn bộ diện tích đất 776m² này được sử dụng vào mục đích đất ở theo hiện trạng. Việc xác định diện tích đất ở tính thuế phải được thực hiện theo quy định về pháp luật thuế và các quy định pháp luật khác có liên quan. Giấy xác nhận nguồn gốc đất ở và nhà ở của UBND xã T ngày 03/4/1999 được xem xét trong trường hợp bà Phan Thị N lập thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đương nhiên có giá trị công nhận quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị N như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp. Các quy định pháp luật về căn cứ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định diện tích đất ở trong thửa đất có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở không được áp dụng trong trường hợp này do không thuộc phạm vi điều chỉnh của quan hệ pháp luật về thuế. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng pháp luật và trích dẫn các quy định pháp luật này là không phù hợp, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của UBND phường H, sửa lại nội dung này.
[2.3] UBND phường H còn kháng cáo cho rằng Bản án số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ buộc UBND phường H xác nhận lại diện tích đất ở của bà Phan Thị N là không đúng, do việc xác định
diện tích đất ở là của UBND cấp huyện. Nội dung này đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm phân tích, điều chỉnh tại mục [2.1] và xác định thẩm quyền xác định thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản dồ số 10 tại phường H, thành phố T của bà Phan Thị N thuộc UBND phường H tại mục [2.2].
[2.4] Tại Đơn kháng cáo, bà Phan Thị N cho rằng cần buộc UBND phường H xác định lại diện tích đất ở tính thuế của bà là 776m²; tuy nhiên, như đã phân tích trên, bà Phan Thị N không cung cấp được chứng cứ chứng minh toàn bộ diện tích 776m² đất này hộ bà N đã sử dụng vào mục đích đất ở. Ngoài ra, tại hồ sơ vụ án thể hiện năm 2021 bà Phan Thị N có Đơn xin che chái tạm để buôn bán cải thiện đời sống, đề nghị UBND phường H cho phép xây dựng một láng trại tạm (công trình khác không phải công trình nhà ở) để buôn bán với diện tích 155m² nhưng không được UBND phường H cho phép (BL 53-54). Do đó, có căn cứ xác định phần diện tích 155m² này không sử dụng vào mục đích đất ở. Bà Phan Thị N yêu cầu xác định toàn bộ diện tích đất 776m² của thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 sử dụng vào mục đích để ở là không phù hợp với hiện trạng và không có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị N.
[2.5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà Phan Thị N và chấp nhận một phần kháng cáo của UBND phường H, thành phố T; sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ; buộc UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác định lại thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 tại phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của bà Phan Thị N theo đúng quy định pháp luật.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí:
Bà Phan Thị N là người cao tuổi, có Đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên UBND phường H, thành phố T không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N được chấp nhận nên UBND phường H, thành phố T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị N. Chấp nhận một phần kháng cáo của UBND phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, sửa một phần Bản án số 03/2024/HC-ST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
[2] Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348, Điều 349 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 11 Luật Đất đai năm 2013; Điều 3 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP06/01/2017 của Chính phủ; Điều 5 và khoản 1 Điều 16 Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ T2; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử;
[2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N: Buộc Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam xác định lại thông tin diện tích đất ở tính thuế tại Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với thửa đất số 211, tờ bản đồ số 10 tại phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam của bà Phan Thị N theo đúng quy định pháp luật.
[2.2] Về án phí:
- Bà Phan Thị N thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định pháp luật.
- Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001503 ngày 26/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T1, tỉnh Quảng Nam.
- Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 21/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Anh Đào |
Bản án số 01/2025/HC-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai
- Số bản án: 01/2025/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai
