Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 01/2025/DS-ST

Ngày: 21/02/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hùng Việt

2. Bà Phan Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 222/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đinh H – sinh năm 1968; Nơi cư trú: TDP N, P. C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị M; Nơi cư trú: TDP N, P. C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; Nơi cư trú: TDP N, P. C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng ông Đinh H và bà Nguyễn Thị T có cho vợ chồng ông bà Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Thị M vay số tiền 200.000.000 đồng như sau:

  • Ngày 18/12/2019 cho vay 100.000.000 đồng, có lập giấy mượn tiền có chữ ký của ông P, bà M.
  • Ngày 10/3/2020 cho vay 100.000.000 đồng, có lập giấy mượn tiền có chữ ký của ông P, bà M.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay, hai bên có tự thỏa thuận tiền lãi suất theo quy định hàng tháng (theo lãi suất 20%/năm) và bị đơn đã thanh toán đủ. Tuy nhiên sau đó đến tháng 3/2024 ông H và bà T có như cầu lấy lại tiền nên yêu cầu vợ chồng ông P, bà M trả lại tiền. Ông P, bà M chỉ trả tiền nhỏ giọt vào số tài khoản 4702205318989 – A của bà Nguyễn Thị T như sau:

STT ngày số tiền đã trả số lãi phải trả số gốc được trừ nợ gốc còn lại
1 18/4/2024 10,000,000 3,333,333.33 6,666,666.67 193,333,333.33
2 23/5/2024 10,000,000 3,222,222.22 6,777,777.78 186,555,555.56
3 28/6/2024 10,000,000 3,109,259.26 6,890,740.74 179,664,814.81
4 27/7/2024 10,000,000 2,994,413.58 7,005,586.42 172,659,228.40
5 29/8/2024 10,000,000 2,877,653.81 7,122,346.19 165,536,882.20
6 30/9/2024 5,000,000 2,758,948.04 2,241,051.96 163,295,830.24
Tổng 55,000,000 18,295,830 36,704,170 163,295,830.24

Sau đó bị đơn không tiếp tục trả tiền. Nguyên đơn nhiều lần liên lạc yêu cầu trả tiền nhưng bị đơn cố tình trốn tránh.

Do vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Yêu cầu bị đơn phải trả số nợ như sau:

  • Nợ gốc còn lại: 163.295.000 đồng (lấy số tròn).
  • Nợ lãi tính từ ngày 01/10/2024 đến khi trả hết nợ theo lãi suất 20%/năm. Nguyên đơn tạm tính đến hết tháng 11/2024 là 5.443.167 đồng và số tiền lãi còn phải trả đến khi bị đơn trả hết gốc.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị T thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn và xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.

[1.2] Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ theo quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu bị đơn trả tiền nợ đã vay nên xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[1.4] Trong đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc là 200.000.000 đồng và không yêu cầu tiền lãi. Ngày 29/11/2024, nguyên đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện: cụ thể yêu cầu nợ gốc 163.295.000 đồng và yêu cầu tính lãi tính từ ngày 01/10/2024 đến khi trả hết nợ theo lãi suất 20%/năm. Nguyên đơn tạm tính đến hết tháng 11/2024 là 5.443.167 đồng và số tiền lãi còn phải trả đến khi bị đơn trả hết gốc. Như vậy, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc là: 200.000.000 đồng - 163.295.000 đồng = 36.705.000 đồng, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút. Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung phần tiền lãi là không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên chấp nhận.

[2] Về nội dung vụ án:

Theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện, vợ chồng ông Đinh H và bà Nguyễn Thị T có cho vợ chồng ông bà Nguyễn Ngọc P và Nguyễn Thị M vay số tiền 200.000.000 đồng theo 02 giấy mượn tiền vào ngày 18/12/2019 và ngày 10/3/2020 như nguyên đơn đã trình bày. Đến hạn trả nợ bị đơn không thực hiện trả tiền theo thoả thuận.

[3] Hội đồng xét xử căn cứ vào các “Giấy mượn tiền” đề ngày 18/12/2019 và ngày 10/3/2020 có chữ ký xác nhận của bị đơn để xác định việc bị đơn vay tiền của ông Đinh H và bà Nguyễn Thị T là có thật. Các hợp đồng vay tiền theo các “Giấy mượn tiền” đề ngày 18/12/2019 và ngày 10/3/2020 được các bên tự nguyện giao kết nên phát sinh hiệu lực. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả khoản nợ gốc, lãi là hoàn toàn phù hợp quy định tại các Điều 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự 2015 nên chấp nhận.

[4] Về khoản tiền gốc, lãi cụ thể theo yêu cầu của nguyên đơn thì thấy rằng,

theo giấy mượn tiền các bên không quy định tiền lãi, tuy nhiên theo các tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện hàng tháng bị đơn đều có chuyển khoản một số tiền cho nguyên đơn. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn về việc hợp đồng vay có tính lãi là phù hợp với chứng cứ nêu trên. Về số tiền gốc theo tính toán của nguyên đơn là 163.295.000 đồng sau khi trừ phần lãi suất theo quy định là 20%/năm là hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nên chấp nhận. Về khoản tiền lãi cụ thể tính từ ngày 01/10/2024 đến ngày xét xử là: 163.295.000 đồng x 20%/năm x 134ngày/365 ngày = 11.989.000 đồng. Tổng số tiền bị đơn phải trả cho ông Đinh H và bà Nguyễn Thị T là 175.284.000 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải trả tiền lãi theo hợp đồng là 20%/năm tính từ ngày 22/02/2025 trên số nợ gốc còn lại đến khi trả hết nợ.

[4] Về án phí:

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.764.000 đồng đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Các Điều 357, 463, 466, 468 và 470 Bộ luật Dân sự;

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện về số tiền gốc là 36.705.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn đồng).
  2. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh H, buộc bị đơn ông Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị M phải trả cho ông Đinh H và bà Nguyễn Thị T các khoản tiền như sau:
    1. Số tiền 175.284.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi tư nghìn đồng), trong đó tiền gốc là: 163.295.000 đồng, tiền lãi là 11.989.000 đồng.
    2. Khoản tiền lãi tính từ ngày 22/02/2025 tính trên số tiền gốc còn lại của khoản nợ gốc 163.295.000 đồng với lãi suất 20%/năm đến khi trả hết nợ gốc.
  3. Về án phí:
    • - Ông Nguyễn Ngọc P và bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.764.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm sảy mươi bốn nghìn đồng).
    • - Hoàn trả cho ông Đinh Hoàng S tiền tạm ứng án phí là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTU/23, số 0004976 ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
  4. Quy định:

    Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP. Cam Ranh;
  • - VKSNT tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Cam Ranh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 01/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vợ chồng ông Đinh H và bà Nguyễn Thị Tcó cho vợ chồng ông bà Nguyễn Ngọc Ph và Nguyễn Thị M vay số tiền 200.000.000 đồng Sau đó bị đơn không tiếp tục trả tiền. Nguyên đơn nhiều lần liên lạc yêu cầu trả tiền nhưng bị đơn cố tình trốn tránh. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Yêu cầu bị đơn phải trả số nợ như sau: - Nợ gốc còn lại: 163.295.000 đồng (lấy số tròn). - Nợ lãi tính từ ngày 01/10/2024 đến khi trả hết nợ theo lãi suất 20%/năm. Nguyên đơn tạm tính đến hết tháng 11/2024 là 5.443.167 đồng và số tiền lãi còn phải trả đến khi bị đơn trả hết gốc.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger