Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/LĐ-PT

Ngày: 01 - 8 - 2024

“V/v tranh chấp Hợp đồng lao động”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Thẩm phán:Ông Phạm Văn Phấn

Bà Trần Thị Mỹ Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vinh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 7 và ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 01/2022/TLPT-LĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp về hợp đồng lao động”. Do Bản án Lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022, của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lộc Thị N; Sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn B, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số A, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thanh H, sinh năm 1987; Địa chỉ: số A, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Bị đơn: Công ty cổ phần Y; Địa chỉ: Số A, đường N, phường Đ, T, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo pháp luật: Ông Thái Khắc H1 - Giám đốc công ty cổ phần Y. Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Tần Văn L, sinh năm 1957 - Trưởng phòng tổ chức kiêm trợ lý pháp luật Công ty cổ phần Y; Địa chỉ: K, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Người kháng cáo: Bị đơn Công ty cổ phần Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022, của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thì vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/5/2022, của nguyên đơn bà Lộc Thị N; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đều trình bày: Ngày 18/9/2019, bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y ký kết Hợp đồng lao động số 40/CT-HĐDS/2019 thỏa thuận về làm việc tại Công ty với tư cách bà N là người lao động còn Công ty cổ phần Y là chủ sử dụng lao động, thời hạn hợp đồng là 25 năm. Hợp đồng thỏa thuận về quyền và trách nhiệm của các bên, quy định về tiền lương, thưởng, thời giờ làm việc, và cam kết phải nộp bằng gốc y khoa. Ngày 28/10/2019, theo yêu cầu của Công ty, bà N đã giao nộp 01 bằng gốc tốt nghiệp Y khoa số C 0007683 do trường Đại học Y1 dược, đại học H2 cấp ngày 05/7/2019 mang tên Lộc Thị N, việc giao nhận có lập thành biên bản kèm theo.Thời gian làm việc tại đây, bà N đều tuân thủ mọi nội quy, quy chế của Công ty đặt ra, không vi phạm kỉ luật và hoàn thành mọi công việc được giao. Quá trình làm việc, bà N chưa từng được Công ty cử đi đào tạo chuyên môn hay học tập ở chỗ nào.

Ngày 11/4/2021, bà N làm đơn xin nghỉ việc vì bà N có dự định đi học thêm để nâng cao trình độ. Ngày 27/5/2021, (sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn), bà N lên gặp trực tiếp ban lãnh đạo Công ty nhưng Công ty không giải quyết quyền đơn phương chấm dứt lao động của bà N, không thực hiện việc trả bằng gốc Y khoa cho bà N, và yêu cầu bà N bồi thường số tiền: 332.018.290 đồng thì mới giải quyết cho bà N thôi việc.Ngày 10/9/2021, theo yêu cầu của các bên, Công ty Cổ phần Y có tổ chức buổi đối thoại, tuy nhiên phía Công ty vẫn yêu cầu bà N bồi thường số tiền 332.018.290 đồng mới tiến hành trả bằng gốc và giải quyết thôi việc.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dân sự số 40/CT HDDS/2019 ngày 18/9/2019, giữa bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y; buộc Công ty cổ phần Y trả cho bà Lộc Thị N bằng gốc Y khoa số C 0007683 do trường Đại học H2 cấp ngày 05/7/2019 mang tên Lộc Thị N; buộc Công ty Cổ phần Y cấp xác nhận bằng văn bản về quá trình thực hành tại bệnh viện theo đúng quy định pháp luật cho bà Lộc Thị N.

Tại bản báo cáo vụ việc tranh chấp đề ngày 11/02/2022, của ông Thái Khắc H1 là giám đốc của Công ty Cổ phần Y cũng như lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tại các biên bản hòa giải đã trình bày: Bị đơn thừa nhận trong năm 2019, bác sỹ Lộc Thị N đã trực tiếp đến Công ty cổ phần Y nộp hồ sơ xin việc làm. Do đặc điểm tuyển nhân sự của ngành y nên do dác sỹ Lộc Thị N chưa có chứng chỉ hành nghề nên Công ty cổ phần Y cùng với bà Lộc Thị N đã ký Hợp đồng dân sự số: 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019. Tại Điều 1 của Hợp đồng này bà Lộc Thị N đã tự nguyện cam kết nạp văn bằng tốt nghiệp y khoa cho công ty quản lý. Để có chứng chỉ hành nghề bà Lộc Thị N được bố trí thực hành tại khoa Phụ sản thời gian học thực hành 18 tháng.

Theo quy định của luật khám bệnh, chữa bệnh. Trong thời gian 18 tháng công ty đã hỗ trợ cho bà Lộc Thị N số tiền: 232.018.290 đồng và trả tiền chi phí đào tạo cho bác sỹ có kinh nghiệm hướng dẫn, số tiền là 100.000.000 đồng, các khoản chi trên có chứng từ. Gần hết thời gian học thực hành 18 tháng bà Lộc Thị N đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự khi chưa cho phép của lãnh đạo công ty và lãnh đạo bệnh viện, mà làm đơn tố cáo Công ty cổ phần Y, gửi các ngành cơ quan cấp tỉnh, ngoài ra bà Lộc Thị N còn đăng tải trên mạng xã hội bôi nhọ uy tín của Công ty cổ phần Y, Bệnh viện Đ về việc tuyển dụng nhân sự. Trước khi làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An.

Quá trình giải quyết và tại đơn đề nghị về việc xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm của đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà cho rằng:

1. Công ty Cổ phần Y không ký hợp đồng lao động với bà Lộc Thị N khi mới xin vào làm việc tại Công ty Cổ phần Y là đúng với quy định của pháp luật. Vì:

- Những căn cứ quy định không ký kết được Hợp đồng lao động

a. Căn cứ thứ nhất: Theo Bộ luật lao động năm 2012 quy định, tại mục 5 - Điều 8: Các hành vi bị nghiêm cấm là: “ Sử dụng lao động chưa qua đào tạo nghề hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc, phải sử dụng lao động đã được đào tạo nghề hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia”. Theo quy định này thì bà Lộc Thị N do chưa có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cho nên không thể ký hợp đồng lao động.

b. Căn cứ thứ hai: Theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH1 ngày 31/11/2009, tại Mục 2- Điều 6: “ Các hành vi bị cấm là: Khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề”. Điều này được hiểu, dù là Bác sỹ, y sỹ,...vv khi chưa có chứng chỉ hành nghề thì không được phép khám bệnh, chữa bệnh.

c. Căn cứ thứ ba: Bà Lộc Thị N muốn được cấp chứng chỉ hành nghề thì phải qua giai đoạn học thực hành tại Bệnh viện Đ. Theo quy định tại Điều 24: “xác nhận thời gian thực hành” Luật khám chữa bệnh số: 40/2009/QH1 ngày 31/11/2009 thì Bà Lộc Thị N phải học thực hành tại Bệnh viện Đ thời gian 18 tháng. Hết thời gian học thực hành 18 tháng Công ty Cổ phần Y - Bệnh viện Đ làm hồ sơ xác nhận thời gian học thực hành đề nghị Sở Y2 cấp chứng chỉ hành nghề cho bà Lộc Thị N. Do thời gian ban đầu 18 tháng là thời gian học thực hành nên , Công ty Cổ phần Y chưa thu lợi được gì ở bà Lộc Thị N. Việc tuyển dụng y nhân lực này nó hoàn toàn khác với các đơn vị hành chính sự nghiệp, các doanh nghiệp,vv... Khi tuyển dụng cán bộ vào làm việc ngày đầu tiên, người sử dụng lao động đã thu được kết quả từ người lao động.

d) Căn cứ thứ tư: Sau 18 tháng học thực hành nếu bà Lộc Thị N được Sở Y2 cấp chứng chỉ hành nghề thì bà Lộc Thị N được quyền khám bệnh, chữa bệnh...

Như vậy khi chưa có chứng chỉ hành nghề thì bà Lộc Thị N chưa được gọi là người lao động thì chưa đủ điều kiện để ký hợp đồng khám bệnh chữa bệnh và hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Y.

Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 là hợp đồng dân sự không phải là Hợp đồng lao động. vì:

1. Hợp đồng dân sự số: 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 đảm bảo nguyên tắc đúng pháp luật.

a) Căn cứ pháp lý của Luật dân sự:

Căn cứ điểm 2- Điều 3: “ Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự” tại Bộ luật dân sự năm 2015 ghi rõ: “ Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng không được lấy (1) bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản. (2) Cá nhân pháp nhân xác lập thực hiện chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng...”

b) Căn cứ kết quả thương thảo:

Theo quy định trên trước ngày hai bên ký kết hợp đồng dân sự số: 40/CT HĐDS/2019 ngày 28/09/2019 Lãnh đạo Công ty Cổ phần Y và Bà Lộc Thị N đã thương thảo với nhau một cách cụ thể theo các điều khoản ghi trong hợp đồng. Sau khi thương thảo khách quan, kỹ lưỡng hai bên đã tự nguyện cam kết thỏa thuận các điều khoản ghi trong hợp đồng cùng ký tên thực hiện.

c) Căn cứ tính xác thực của hợp đồng dân sự

Trong bản hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y và bà Lộc Thị N tại điều 4: Thời gian hợp đồng ghi rõ “Hợp đồng có hiệu lực từ ngày ký, thời gian thực hiện hợp đồng 25 năm và chỉ chấm dứt khi người lao động hoàn tất các thủ tục thanh lý hợp đồng lao động với công ty”. Căn cứ vào nội dung ghi tại điều này chúng ta hiểu được giá trị của hợp đồng này có thời gian 25 năm. Trong thời gian 25 năm, muốn chấm dứt Hợp đồng dân sự này thị bà Lộc Thị N hoàn tất các thủ tục thanh lý hợp đồng lao động với công ty. Điều này có nghĩa sau khi có chứng chỉ hành nghề Công ty Cổ phần Y sẽ ký tiếp Hợp đồng lao động với bà Lộc Thị N.

Tại điều 4 của Hợp đồng này quy định thời gian thực hiện hợp đồng là 25 năm. Không có dòng chữ nào ghi thời gian làm việc của bà Lộc Thị N 25 năm. Do quá trình thương thảo bà Lộc Thị N đã đồng ý tự nguyện nộp văn bằng gốc cho công ty quản lý. Cho nên trong hợp đồng:

Tại điều 1 của Hợp đồng dân sự này ghi rõ: “Ký nộp văn bằng chứng chỉ: Người lao động vào làm việc tại Công ty B phải nạp bằng tốt nghiệp và các chứng chỉ liên quan cho công ty quản lý đến khi kết thúc hợp đồng lao động”.

Xét về mối quan hệ dân sự bà Lộc Thị N giao nộp bằng gốc y khoa cho Công ty Cổ phần Y quản lý là đúng quy định của Bộ luật dân sự. Hợp đồng dân sự này tương tự như hợp đồng dân sự về việc khách hàng vay vốn tại các ngân hàng, khi khách hàng thế chấp tài sản cũng phải nạp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ngân hàng để ràng buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại về kinh tế khi rủi ro xảy ra.

Tóm lại: Với các căn cứ như đã nêu trên đủ cơ sở chứng minh hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 mà Công ty Cổ phần Y ký với bà Lộc Thị N là đúng nguyên tắc, quy định của Luật dân sự.

2. Quan điểm của Công ty Cổ phần Y

Do bà Lộc Thị N khi làm hồ sơ xin việc tại Công ty Cổ phần Y chưa có chứng chỉ hành nghề nên Công ty Cổ phần Y không ký Hợp đồng lao động với bà Lộc Thị N theo quy định của luật lao động như đã nêu trên.

Để có chứng chỉ hành nghề bà Lộc Thị N phải có thời gian học thực hành tại bệnh viện Đ là 18 tháng. Theo nghị định số: 109/2016/NĐ CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định “Cấp chứng chỉ hành nghề ”. Tại Điều 16 “Tổ chức thực hành” quy định là (1) “tiếp nhận người thực hành” (2) “phân công người hướng dẫn thực hành” (3 ) người hướng dẫn thực hành phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với văn bằng của người thực hành, có trình độ đào tạo tương đương hoặc cao hơn người thực hành và có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh liên tục từ 3 năm trở lên. Sau khi hết thời gian thực hành người hướng dẫn thực hành có văn bản nhận xét quá trình thực hành, trình người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xác nhận quá trình thực hành theo mẫu quy định của Nghị định này trình cấp có thẩm quyền xét cấp giấy chứng nhận hành nghề ”. Trong thời gian thực hành Công ty Cổ phần Y đã chi một khoản tiền lớn cho người hướng dẫn gọi là chi y phí đào tạo ngoài ra Công ty Cổ phần Y đã chi hỗ trợ cho bà Lộc Thị N một khoản tiền là 323.018.290 đồng để tiêu dùng trong thời gian 18 tháng. Trước khi chí số tiền này, để ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau Công ty Cổ phần Y và bà Lộc Thị N, hai bên đã cùng nhau thương thảo và thống nhất phải ký kết hợp đồng dân sự số: 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 việc ký kết hợp đồng dân sự này đúng quy định của Luật dân sự với mục đích buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi rủi ro xảy ra. Trong quá trình thực hiện hợp đồng dân sự Bà Lộc Thị N đã tự nguyện nạp văn bằng gốc y khoa cho Công ty Cổ phần Y là đúng theo điều khoản ký kết trong Hợp đồng dân sự, không trái với quy định của pháp luật; Vì: Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 không phải là hợp đồng lao động.

Trong thời gian học thực hành 18 tháng Công ty Cổ phần Y đã chi trả chi phí đào tạo cho bác sỹ hướng dẫn số tiền: 100.000.000 đồng. Thế nhưng trong đơn tố cáo của bà Lộc Thị N khiếu kiện là chưa bao giờ được Công ty Cổ phần Y đào tạo. Điều này đủ căn cứ để bác lời khiếu nại của bà Lộc Thị N. Như vậy Công ty Cổ phần Y đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, theo điều khoản đã ký kết trong hợp đồng. Nhưng bà Lộc Thị N sau 18 tháng, không có nguyện vọng ở lại Công ty Cổ phần Y nên đã đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự, nay lại yêu cầu Công ty Cổ phần Y trả văn bằng y khoa và làm thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề. Yêu cầu của bà Lộc Thị N hoàn toàn trái với điều khoản đã ký kết trong hợp đồng dân sự số: 40/CT- HDDS/2019 ngày 18/09/2019.

Tóm lại: Với các căn cứ như báo cáo giải trình nêu trên, Công ty Cổ phần Y có ý kiến quan điểm như sau:

- Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y với bà Lộc Thị N là Hợp đồng dân sự chứ không phải là Hợp đồng lao động như khiếu nại của bà Lộc Thị N.

- Theo điều khoản đã ký kết trong Hợp đồng dân sự việc Công ty cổ phần Y giữ văn bằng gốc y khoa của bà Lộc Thị N là đúng theo quy định của Luật dân sự.

- Trong thời gian học thử việc 18 tháng Công ty Cổ phần Y y đã chi phí đào tạo thuê người hướng dẫn theo quy định đã chi số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền này là chi phí đào tạo để cấp chứng chỉ hành nghề cho bà Lộc Thị N. Ngoài ra còn chi hỗ trợ tiền trong thời gian 18 tháng là 232.018.290 đồng.

Do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự của bà Lộc Thị N. Theo điều khoản cam kết đã gây thiệt hại cho Công ty Cổ phần Y về kinh tế và danh dự uy tín trong công tác tuyển dụng nhân sự. Vì vậy buộc bà Lộc Thị N phải trả lại cho Công ty Cổ phần Y số tiền 323.018.290 đồng (gồm tiền hỗ trợ và chi phí đào tạo). Đồng thời yêu cầu bà Lộc Thị N bằng mọi cách trả lại danh dự uy tín cho Công ty về công tác tuyển dụng nhân sự trên mạng xã hội.

Đại diện ủy quyền của bị đơn cho rằng vì bị đơn không khởi kiện nên không thực hiện nộp tiền tạm ứng án phí theo Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí ngày 29/3/2022 của Tòa án.

Bản án Lao động sơ thẩm số 02/2022/LĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 điều 32, điểm c khoản 1 điều 35, điểm b khoản 1 điều 40, khoản 2 điều 227, điểm d khoản 1, khoản 3 Điều 192, điều 200, điều 202 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 15, 16, 17, 18, 19, 20, 22, 23, khoản 9 Điều 36, khoản 3 Điều 37 của Bộ luật lao động; Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động; khoản 2 điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lộc Thị N.

- Chấm dứt Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y và bà Lộc Thị N

- Buộc Công ty cổ phần Y trả lại cho bà Lộc Thị N 01 Bằng gốc Y khoa số C 0007683 do trường Đại học H2 cấp ngày 05/7/2019 mang tên Lộc Thị N.

- Buộc Công ty cổ phần Y xác nhận bằng văn bảnvề quá trình thực hành tại bệnh viện theo đúng quy định pháp luật cho bà Lộc Thị N.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12 tháng 10 năm 2022, bị đơn Công ty cổ phần Y kháng cáo bản án sơ thẩm với lý do: Do công tác đột xuất nên người đại diện cho bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 27/9/2022 chứ không có đơn đề nghị tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử vắng mặt; Bản án sơ thẩm không xét xử theo trình tự nguyên đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự mà quyết định chuyển hợp đồng dân sự thành hợp đồng lao động để áp dụng điều luật yêu cầu bị đơn trả lại văn bằng gốc và đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề cho nguyên đơn bà Lộc Thị N là trái quy định pháp luật. Vì vậy, bị đơn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại đúng quy định của pháp luật về Hợp đồng dân sự, không chuyển hợp đồng dân sự thành hợp đồng lao động. Nguyên đơn muốn lấy lại văn bằng gốc y khoa thì trả lại cho bị đơn số tiền đã ghi rõ trong hợp đồng dân sự là 300.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty cổ phần Y giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện nguyên đơn không đồng ý với nội dung kháng cáo của bị đơn, yêu cầu Toà án không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán được phân công đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Y; huỷ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Xét nội dung kháng cáo của Công ty cổ phần Y, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn cho rằng do công tác đột xuất nên người đại diện cho bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 27/9/2022 chứ không có đơn đề nghị tòa án nhân dân thành phố Vinh xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 27/9/2022, tòa án cấp sơ thẩm nhận được đơn đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa của Công ty cổ phần Y. Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng Công ty cổ phần Y vắng mặt, không cử người đại diện thay thế tham gia phiên tòa. Vì vậy, căn cứ khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật. Do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Công ty về nội dung này.

[2] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn không chấp nhận quyết định tại bản án sơ thẩm về việc quyết định chuyển hợp đồng dân sự thành hợp đồng lao động để áp dụng điều luật buộc bị đơn trả lại văn bằng gốc, cấp chứng chỉ hành nghề cho nguyên đơn bà Lộc Thị N là trái quy định pháp luật. Bị đơn yêu cầu, nguyên đơn muốn lấy lại văn bằng gốc y khoa thì trả lại cho bị đơn số tiền đã ghi rõ trong hợp đồng dân sự là 300.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y với bà Lộc Thị N:

Ngày 18/9/2019, bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y đã ký kết Hợp đồng dân sự số 40/CT-HĐDS/2019 về việc thỏa thuận khi vào làm việc tại Công ty cổ phần Y. Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y với bà Lộc Thị N có nội dung về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên... theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật lao động. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng dân sự số 40/CT-HĐDS/2019 ngày 18/9/2019 được ký kết giữa bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y là Hợp đồng lao động, không phải là Hợp đồng dân sự như trình bày của bị đơn là có căn cứ.

Tại Điều 4 của Hợp đồng nêu trên các bên có thỏa thuận về thời hạn của Hợp đồng như sau: “Hợp đồng có hiệu lực từ ngày ký, thời gian thực hiện hợp đồng 25 năm và chỉ chấm dứt khi người lao động hoàn tất các thủ tục thanh lý hợp đồng lao động với Công ty...”. Sự thỏa thuận này của các đương sự là chưa phù hợp với quy định tại Điều 22 của Bộ luật lao động. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng dân sự số 40/CT-HĐDS/2019 ngày 18/9/2019 được ký kết giữa bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y là Hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo mục a khoản 1 Điều 22 của Bộ luật lao động là phù hợp với quy định của pháp luật và ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng.

Tại điều 1 của Hợp đồng dân sự số 40/CT-HĐDS/2019 ngày 18/9/2019 được ký kết giữa bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y ghi: “Ký nộp văn bằng chứng chỉ: Người lao động vào làm việc tại Công ty B phải nạp bằng tốt nghiệp và các chứng chỉ liên quan cho công ty quản lý đến khi kết thúc hợp đồng lao động”. Sự thỏa thuận này của các đương sự là vi phạm quy định tại Điều 20 của Bộ luật lao động về “những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động” trong đó có hành vi: “1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động”. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật lao động, phần thỏa thuận của các bên tại điều 1 của Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/9/2019 là vô hiệu, nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

Xét Hợp đồng dân sự số 40/CT-HĐDS/2019 ngày 18/9/2019 được ký kết giữa bà Lộc Thị NCông ty cổ phần Y có chủ thể tham gia ký kết tự nguyện khi xác lập và thực hiện; mục đích, nội dung (trừ nội dung tại Điều 1 của Hợp đồng) và hình thức của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ điều 15, 16, 17, 18, 19, 22, 23 của Bộ luật lao động cho thấy Hợp đồng trên là có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan.

Về yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dân sự số 40/CT-HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y với bà Lộc Thị N: Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự thừa nhận: Thời gian vào làm việc chính thức của bà Lộc Thị N tại Công ty cổ phần Y là ngày 18/9/2019, đúng như ngày các bên giao kết Hợp đồng. Bà N làm việc liên tục tại Công ty cho đến ngày 11/4/2021 thì bà N làm đơn xin nghỉ việc với lý do bà N có dự định đi học thêm để nâng cao trình độ.

Nguyên đơn cho rằng đến ngày 27/5/2021 (sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn), bà N lên gặp trực tiếp ban lãnh đạo Công ty nhưng Công ty không giải quyết quyền đơn phương chấm dứt lao động của bà, không thực hiện việc trả bằng gốc Y khoa và yêu cầu bà N phải bồi thường số tiền 332.018.290 đồng thì mới giải quyết cho bà N thôi việc. Bị đơn cho rằng gần hết thời gian học thực hành 18 tháng bà Lộc Thị N đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự khi chưa cho phép của Lãnh đạo Công ty và Lãnh đạo bệnh viện, mà làm đơn tố cáo Công ty cổ phần Y, gửi các ngành cơ quan cấp tỉnh ngoài ra Bà Lộc Thị N còn đăng tải trên mạng xã hội bôi nhọ uy tín của Công ty cổ phần Y – Bệnh viện Đ về việc tuyển dụng nhân sự. Vì vậy bị đơn không chấp nhận yêu cầu đơn phương chấm dứt Hợp đồng của bà N và yêu cầu bà N phải bồi thường số tiền 332.018.290 đồng thì mới xem xét giải quyết việc chấm dứt hợp đồng, trả lại bằng gốc và xác nhận thời gian thực hành.

Tài liệu bị đơn xuất trình là Bảng tổng hợp chi trả tiền lương của Lộc Thị N thể hiện bà N đã nhận lương đến hết tháng 5/2021. Thời gian từ ngày 11/4/2021 đến hết tháng 5/2021 là quá 45 ngày, đến nay trên thực tế hai bên đã không có quan hệ làm việc trả lương với nhau nữa. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 9 điều 36, khoản 3 điều 37 của Bộ luật lao động, căn cứ thỏa thuận của các bên tại mục 3.1 Điều 3 của Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y với bà Lộc Thị N chấp nhận yêu cầu của bà Lộc Thị N về đơn phương chấm dứt Hợp đồng là đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Về yêu buộc Công ty cổ phần Y trả lại Bằng gốc Y khoa số C 0007683 do trường Đại học H2 cấp ngày 05/7/2019 mang tên Lộc Thị N: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận sau khi ký kết Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 thì ngày 28/10/2019 bà Lộc Thị N là bên giao đã giao cho Công ty là bên nhận đã nhận giấy tờ là: 01 bằng tốt nghiệp Y khoa (bản gốc Y) C 0007683 do trường Đại học Y1 dược, Đại học Huế cấp ngày 05/7/2019 mang tên Lộc Thị N và có lập Giấy biên nhận. Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Điều 20 của Bộ luật lao động quy định về “Những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động” trong đó có hành vi: “1. Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động”, sự thỏa thuận này của các đương sự tại điều 1 của Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/9/2019 là vô hiệu. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty cổ phần Y trả lại Bằng gốc Y khoa số C 0007683 do trường Đại học H2 cấp ngày 05/7/2019 cho bà Lộc Thị N là có căn cứ.

[2.3] Về yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần Y cấp xác nhận bằng văn bản về quá trình thực hành tại bệnh viện theo đúng quy định pháp luật cho bà Lộc Thị N: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận do chưa có chứng chỉ hành nghề nên bà Lộc Thị N được Công ty cổ phần Y tiếp nhận và phân công thực hành tại Khoa phụ sản Bệnh viện Đ trong thời gian từ ngày 18/9/2019 đến ngày 18/3/2021 theo Quyết định số 37/QĐ-BVĐKTA ngày 18/9/2019 về việc tiếp nhận và phân công người hướng dẫn thực hành tại cơ sở khám chữa bệnh. Việc tiếp nhận và phân công người hướng dẫn thực hành tại cơ sở khám chữa bệnh của Công ty Cổ phần Y đối với bà Lộc Thị N đã thực hiện đúng quy định của Luật khám chữa bệnh ngày 23/11/2009; Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 29/11/2011 và Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y3 quy định hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề...Các đương sự cũng thừa nhận thời gian vào làm việc chính thức của bà Lộc Thị N tại Công ty Cổ phần Y là ngày 18/9/2019. Bà N làm việc liên tục tại Công ty cho đến ngày 11/4/2021 thì bà N làm đơn xin nghỉ việc. Bà L1 nhận lương của công ty là đến hết tháng 5/2021. Vì vậy có căn cứ để khẳng định thời gian bà Lộc Thị N đã làm việc tại Công ty là đã đủ 18 tháng. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần Y cấp xác nhận bằng văn bản về quá trình thực hành tại bệnh viện theo đúng quy định pháp luật cho bà Lộc Thị N là có căn cứ.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bản án sơ thẩm chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn bao gồm: Chấm dứt Hợp đồng dân sự số 40/CT- HĐDS/2019 ngày 18/09/2019 giữa Công ty Cổ phần Y với bà Lộc Thị N; Buộc Công ty cổ phần Y trả lại Bằng gốc Y khoa số C 0007683 do trường Đại học H2 cấp ngày 05/7/2019 mang tên Lộc Thị N; Buộc Công ty Cổ phần Y cấp xác nhận bằng văn bản về quá trình thực hành tại bệnh viện theo đúng quy định pháp luật cho bà Lộc Thị N là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo này của Công ty Cổ phần Y.

[2.4] Đối với nội dung kháng cáo của bị đơn yêu cầu nguyên đơn muốn lấy lại bằng gốc y khoa thì trả lại cho bị đơn số tiền đã ghi rõ trong hợp đồng dân sự là 300.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại điều 3 của hợp đồng dân sự số 40 ngày 18/9/2019 ghi rõ:

“Trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ký kết hoặc vi phạm kỷ luật bị sa thải, phải bồi thường cho người sử dụng lao động các khoản sau:

Tiền đào tạo và đào tạo lại người thay thế: 100.000.000 đồng;

Tiền chậm trễ việc triển khai nguồn nhân lực công việc: 200.000.000 đồng;

Cộng: 300.000.000 đồng”.

Như vậy, yêu cầu của bị đơn buộc nguyên đơn trả lại cho bị đơn số tiền đã ghi rõ trong hợp đồng dân sự là 300.000.000 đồng là yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, có liên quan đến thoả thuận trong hợp đồng dân sự đã ký kết, là hậu quả khi chấm dứt hợp đồng, ràng buộc trách nhiệm của người lao động, nên cần phải đồng thời xem xét khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà phúc thẩm Công ty Cổ phần Y khẳng định họ không khởi kiện nên không nộp tạm ứng án phí mà yêu cầu theo thoả thuận trong hợp đồng dân sự đã ký kết.

Việc Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là yêu cầu phản tố của bị đơn, đồng thời ban hành thông báo nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu của Công ty Cổ phần Y và do Công ty không nộp tiền tạm ứng án phí nên không thụ lý giải quyết là không đúng quy định tại Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của Công ty Cổ phần Y.

[4] Từ những căn cứ và lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm không giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng dân sự số 40 ngày 18/9/2019 đối với số tiền 300.000.000 đồng là thiếu sót và không giải quyết triệt để vụ án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Những vi phạm trên của cấp sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, nên cần căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh thành phố Vinh xét xử lại theo quy định pháp luật, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị đơn kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí lao động phúc thẩm, nghĩa vụ chịu án phí lao động sơ thẩm sẽ được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14gày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Y. Xử:

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/LĐ-PT ngày 27/9/2022, của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho Công ty cổ phần Y 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010333 ngày 12/10/2022, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND thành phố Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/LĐ-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng lao động

  • Số bản án: 01/2024/LĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng lao động
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger