TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 01/2024/KDTM-ST Ngày: 23 - 4 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hoàng, ông Múth So Ny.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Cẩm Tiên, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 09/2023/TLST-KDTM ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-KDTM ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-KDTM ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB); địa chỉ trụ sở chính: số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- - Ông Lưu Trung T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, là người đại diện theo pháp luật; (vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Vạn P, chức vụ: Phó Phòng thu hồi nợ - Công ty M; các ông Đinh Thanh T1, Trần Quyết T2, Nguyễn AI P1, Phan Trường S, cùng chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - Công ty M, là người đại diện theo ủy quyền; (ông Nguyễn Vạn P, ông Đinh Thanh T1, có mặt; các ông Trần Quyết T2, Nguyễn AI P1, Phan Trường S, vắng mặt).
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 (Công ty TNHH MTV S2); địa chỉ trụ sở: tổ F, ấp Đ, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1992, chức vụ: Giám đốc, là đại diện theo pháp luật; nơi cư trú: số H đường số A, khu dân cư K, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1992 và bà Trần Kỳ D, sinh năm 1989; cùng địa chỉ cư trú: số H đường số A, khu dân cư K, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; (ông S1, bà D, có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1965, nơi cư trú: khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, là đại diện theo ủy quyền; (vắng mặt).
- - Ông Trần Tấn H, sinh năm 1965; (vắng mặt).
- - Bà Trần Thị Phương L, sinh năm 1965; (vắng mặt).
- - Em Nguyễn Trần Bảo N, sinh năm 2016; (vắng mặt).
- - Em Nguyễn Trần Bảo U, sinh năm 2020; (vắng mặt).
- Em N, em U có ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D là cha mẹ đại diện theo pháp luật; (ông S1, bà D, có mặt).
- - Bà Trần Thị Thái T3, sinh năm 1988; (vắng mặt).
- - Ông Bùi Thanh C, sinh năm 1978; (vắng mặt).
- - Em Bùi Công V, sinh năm 2020; có bà Trần Thị Thái T3, ông Bùi Công V là cha mẹ đại diện theo pháp luật; (bà T3, ông C, vắng mặt).
- Cùng cư trú: số H đường số A, khu dân cư K, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cùng trình bày:
Ngày 13-7-2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (S2) chi nhánh A (sau đây gọi tắt là S2 chi nhánh A) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 có người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Văn S1 (sau đây gọi tắt là Công ty TNHH MTV S2) xác lập Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD. Theo hợp đồng cho vay, MB chi nhánh A cho Công ty TNHH MTV S2 vay số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng; thời hạn vay đến ngày 13-7-2023; lãi suất cho vay trong hạn: 12%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá nợ; lãi suất chậm trả: 10%/năm; Ngày 12-01-2023 và ngày 13-01-2023, S2 chi nhánh A đã giải ngân cho Công ty TNHH MTV S2 số tiền 5.000.000.000 đồng theo Văn bản nhận nợ ngày 12-01-2023 và ngày 13-01-2023.
Để đảm bảo khoản vay, Công ty TNHH MTV S2 có thế chấp cho nguyên đơn các quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất như sau:
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 966787, số vào sổ cấp GCN CH15706 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20-8-2020 cho bà Nguyễn Thị Kim H1 đứng tên sử dụng, được Văn phòng Đ1 chi nhánh L1 điều chỉnh biến động sang tên ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D ngày 03-11-2020 (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2877.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A).
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 219, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 959887, số vào sổ cấp GCN CS16099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17-11-2020 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2884.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A).
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 220, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và tài sản gắn liền với đất là căn nhà loại 3.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 922947, số vào sổ cấp GCN CS11086 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 22-03-2018 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2888.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A).
Quá trình vay vốn, Công ty TNHH MTV S2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ và nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở nhưng Công ty TNHH MTV S2 không thanh toán như thỏa thuận. Tính đến nay, Công ty TNHH MTV S2 chưa thanh toán nợ gốc cho nguyên đơn, chỉ thanh toán được tiền lãi là 185.775.151 đồng thì ngưng.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV S2 thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm tính đến hết ngày 18-4-2024 là 5.808.839.707 đồng, bao gồm: nợ gốc 5.000.000.000 đồng, nợ lãi 808.839.707 đồng (trong đó: nợ lãi trong hạn 111.260.466 đồng, nợ lãi quá hạn 691.795.893 đồng, nợ lãi chậm trả 5.783.348 đồng); yêu cầu Công ty TNHH MTV S2 thanh toán phần nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022 kể từ ngày 19-4-2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Công ty TNHH MTV S2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và trả lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án đối với các tài sản thế chấp kèm theo hợp đồng thế chấp được nêu trên để đảm bảo thi hành án.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022; các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2877.22.461.5260377.BĐ,
số 2884.22.461.5260377.BĐ, số 2888.22.461.5260377.BĐ cùng ngày 26-01-2022; văn bản nhận nợ số ID2301295830 ngày 12-01-2023; văn bản nhận nợ số ID2301302854 ngày 13-01-2023 (tất cả đều là bản đối chiếu) cùng một số tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Lời khai tại Biên bản hòa giải ngày 29-02-2024, bị đơn Công ty TNHH MTV S2 có ông Nguyễn Văn S1 là người đại diện theo pháp luật trình bày: Ông Nguyễn Văn S1, chức vụ: giám đốc Công ty TNHH MTV S2 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV S2 có trụ sở tại tổ F, ấp Đ, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, Công ty hiện ngưng hoạt động, chưa thực hiện thủ tục phá sản, giải thể theo quy định của pháp luật. Công ty TNHH MTV S2 có vay và thế chấp tài sản như nguyên đơn khởi kiện; thống nhất nội dung xem xét thẩm định tại chỗ đối với các quyền sử dụng đất thế chấp của Tòa án, không có ý kiến khác. Quá trình thực hiện hợp đồng, do tình hình kinh tế gặp khó khăn nên Công ty TNHH MTV S2 không thanh toán nợ đúng theo thỏa thuận. Tính đến hết ngày 26-02-2024, Công ty TNHH MTV S2 còn nợ nguyên đơn số tiền 5.680.071.644 đồng, bao gồm: nợ gốc 5.000.000.000 đồng, nợ lãi 680.071.644 đồng. Công ty TNHH MTV S2 nhận trách nhiệm trả số tiền 5.680.071.644 đồng, bao gồm: nợ gốc 5.000.000.000 đồng, nợ lãi 680.071.644 đồng cho nguyên đơn, về phương thức trả sẽ được xem xét, thực hiện trong giai đoạn thi hành án. Nếu Công ty TNHH MTV S2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và trả lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý đối với các tài sản thế chấp kèm theo hợp đồng thế chấp được nêu trên để đảm bảo thi hành án. Công ty TNHH MTV S2 tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí sơ thẩm.
Lời khai tại Biên bản hòa giải ngày 29-02-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D cùng trình bày: Ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D là vợ chồng; ông S1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV S2; Công ty TNHH MTV S2 hiện ngưng hoạt động, chưa thực hiện thủ tục phá sản, giải thể. Ông S1, bà D thống nhất nội dung xem xét thẩm định tại chỗ đối với các quyền sử dụng đất thế chấp của Tòa án, không có ý kiến khác; thống nhất với ý kiến, yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của bị đơn, không có ý kiến khác, không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Lời khai tại Biên bản hòa giải ngày 29-02-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Tấn H, bà Trần Thị Phương L, bà Trần Thị Thái T3 cùng trình bày: Thống nhất với ý kiến, yêu cầu của ông Nguyễn Văn S1 là người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty TNHH MTV S2, không có ý kiến khác.
Tại Đơn trình bày ý kiến ngày 01-3-2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Thanh C trình bày: Ông đã được gia đình thông tin buổi làm việc, thống nhất với các ý kiến, yêu cầu của bị đơn, người liên quan đã trình bày, không có ý kiến nào khác, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 29-02-2024, Tòa án đã mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; trên cơ sở thỏa thuận giữa các đương sự Tòa án đã lập biên bản hòa giải, biên bản hòa giải thành đối với vụ án.
Ngày 07-3-2024, Tòa án nhận được Văn bản thông báo về việc không đồng ý với Biên bản hòa giải thành ngày 29-02-2024 của ông Nguyễn Văn S1; với nội dung: không đồng ý với cách tính lãi của nguyên đơn, đề nghị xem xét, giải quyết về lãi suất theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa,
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm; theo đó, nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH MTV S2 thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến hết ngày 18-4-2024 là 5.808.839.707 đồng, trong đó: nợ gốc 5.000.000.000 đồng, nợ lãi 808.839.707 đồng (lãi trong hạn 111.260.466 đồng, lãi quá hạn 691.795.893 đồng), nợ lãi chậm trả 5.783.348 đồng. Từ ngày 19-4-2024, Công ty TNHH MTV S2 phải tiếp tục trả lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp Công ty TNHH MTV S2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là 03 (ba) quyền sử dụng đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2877.22.461.5260377.BĐ, số 2884.22.461.5260377.BĐ, số 2888.22.461.5260377.BĐ cùng ngày 26-01-2022 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH MTV S2 – ông Nguyễn Văn S1 trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm; do tình hình kinh doanh gặp khó khăn nên Công ty mất khả năng thanh toán đề nghị nguyên đơn xem xét giảm lãi cho bị đơn trong giai đoạn thi hành án.
- Bà Trần Kỳ D trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm; bà là vợ hợp pháp của ông S1, bà có tự nguyện tham gia ký kết các hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của C1, lợi nhuận từ việc kinh doanh của công ty được sử dụng để duy trì hoạt động cho công ty và trang trải cuộc sống hằng ngày; đề nghị nguyên đơn xem xét giảm lãi cho bị đơn trong giai đoạn thi hành án.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều
70, 71, 72 và 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa án đã lập biên bản hòa giải, biên bản hòa giải thành đối với vụ án nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 317, 318, 320, 322, 323, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB), buộc bị đơn Công ty TNHH MTV S2 trả số tiền 5.808.839.707 đồng cho MB Ngân hàng TMCP Q và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 19-4-2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, duy trì các hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty TNHH MTV S2 trả nợ vay. Bị đơn Công ty TNHH MTV S2 có trụ sở chính tại xã V, thị xã T nên yêu cầu kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, các ông, bà Trần Tấn H, Trần Thị Phương L, Trần Thị Thái T3, Bùi Thanh C, Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà trên.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022 giữa MB chi nhánh A với Công ty TNHH MTV S2 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được ký kết.
Về thực hiện hợp đồng, trên cơ Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022, Công ty TNHH MTV S2 được S2 chi nhánh A giải ngân số tiền 5.000.000.000 đồng thông qua văn bản nhận nợ số ID2301295830 ngày 12-01-2023 và văn bản nhận nợ số ID2301302854 ngày 13-01-2023. Sau khi vay, Công ty TNHH MTV S2 chưa thanh toán nợ gốc, đã trả lãi được 185.775.151 đồng và không tiếp tục thanh toán nợ gốc, nợ lãi theo
thỏa thuận cho nguyên đơn. Tính đến hết ngày 18-4-2024, Công ty TNHH MTV S2 còn nợ nguyên đơn số tiền là 5.808.839.707 đồng, trong đó: nợ gốc 5.000.000.000 đồng, nợ lãi 808.839.707 đồng (lãi trong hạn 111.260.466 đồng, lãi quá hạn 691.795.893 đồng), nợ lãi chậm trả 5.783.348 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn S1 thừa nhận còn nợ nợ gốc, nợ lãi theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay đã giao kết và đồng ý xử lý tài sản thế chấp nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thống nhất với ý kiến, yêu cầu của ông S1 và không có ý kiến khác.
Tại Văn bản thông báo ngày 06-3-2024, ông Nguyễn Văn S1 không đồng ý với cách tính lãi của nguyên đơn, cho rằng lãi suất quá cao, trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông S1 xác định do tình hình kinh doanh gặp khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ cho nguyên đơn, đề nghị nguyên đơn xem xét giảm lãi cho bị đơn trong giai đoạn thi hành án; bị đơn không có ý kiến đối với việc tính lãi của nguyên đơn.
[4] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[4.1] Về trách nhiệm trả nợ vay:
Do Công ty TNHH MTV S2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV S2 trả nợ là phù hợp với nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết, quy định tại các Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc Công ty TNHH MTV S2 trả cho nguyên đơn nợ vốn 5.000.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 18-4-2024 là 808.839.707 đồng, trong đó, lãi trong hạn 111.260.466 đồng, lãi quá hạn đối với số nợ gốc là 691.795.893 đồng, nợ lãi chậm trả 5.783.348 đồng và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022 kể từ ngày 19-4-2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[4.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2877.22.461.5260377.BĐ, số 2884.22.461.5260377.BĐ, số 2888.22.461.5260377.BĐ cùng ngày 26-01-2022 với tài sản thế chấp là:
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 966787, số vào sổ cấp GCN CH15706 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20-8-2020 cho bà Nguyễn Thị Kim H1 đứng tên sử dụng, được Văn phòng Đ1 chi nhánh L1 điều chỉnh biến động sang tên ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D ngày 03-11-2020 (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất số 2877.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A).
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 219, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 959887, số vào sổ cấp GCN CS16099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17-11-2020 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2884.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A).
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 220, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và tài sản gắn liền với đất là căn nhà loại 3.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 922947, số vào sổ cấp GCN CS11086 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 22-03-2018 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2888.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A).
Xét thấy, các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên được ông S1, bà D ký kết với S2 chi nhánh A nhằm đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH MTV S2 chi nhánh A. Các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, được công chứng tại Phòng C2, tỉnh An Giang và đăng ký giao dịch bảo đảm theo xác nhận của Văn phòng Đ1 chi nhánh L1 cùng ngày 26-01-2022 là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại các Điều 317, 318, 320, 322 và 323 về thế chấp tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các ông, bà Nguyễn Văn S1, Trần Kỳ D, Trần Tấn H, Trần Thị Phương L, Trần Thị Thái T3, Bùi Thanh C và các em Nguyễn Trần Bảo N, Nguyễn Trần Bảo U, Bùi Công V đang sinh sống trên các quyền sử dụng đất thế chấp đồng ý việc thế chấp tài sản, đồng ý xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp Công ty TNHH MTV S2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả vốn, trả lãi cho nguyên đơn.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2877.22.461.5260377.BĐ, số 2884.22.461.5260377.BĐ và số 2888.22.461.5260377.BĐ cùng ngày 26-01-2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D với S2 chi nhánh A để thu hồi nợ theo quy định tại Điều 299, 301 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong trường hợp Công ty TNHH MTV S2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
[5] Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 2.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi
phí này theo quy định tại Điều 157, 158 Bộ luật Tố tụng dân sự; buộc Công ty TNHH MTV S2 hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng.
[6] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhân nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm; nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phải chịu án phí sơ thẩm đối với số tiền phải trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 147, 157, 158, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 299, 301, 317, 318, 320, 322, 323, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB).
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (S2) tổng số tiền 5.808.839.707 đồng (Năm tỷ, tám trăm lẻ tám triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn, bảy trăm lẻ bảy đồng), trong đó: nợ gốc 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), nợ lãi trong hạn 111.260.466 đồng (Một trăm mười một triệu, hai trăm sáu mươi nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu đồng), nợ lãi quá hạn 691.795.893 đồng (Sáu trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn, tám trăm chín mươi ba đồng), nợ lãi chậm trả 5.783.348 đồng (Năm triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, ba trăm bốn mươi tám đồng) tính đến hết ngày 18-4-2024.
Kể từ ngày 19-4-2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ vốn chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 33694.22.461.5260377.TD ngày 13-7-2022 đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn này. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân
hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
2. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 218, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 966787, số vào sổ cấp GCN CH15706 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20-8-2020 cho bà Nguyễn Thị Kim H1 đứng tên sử dụng, được Văn phòng Đ1 chi nhánh L1 điều chỉnh biến động sang tên ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D ngày 03-11-2020 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2877.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A.
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 219, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 959887, số vào sổ cấp GCN CS16099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17-11-2020 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2884.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A.
- - Quyền sử dụng đất diện tích 81m² thuộc thửa đất số 220, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và tài sản gắn liền với đất là căn nhà loại 3.1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 922947, số vào sổ cấp GCN CS11086 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 22-03-2018 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2888.22.461.5260377.BĐ ngày 26-01-2022 giữa ông S1, bà D với S2 chi nhánh A.
3. Sau khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 thanh toán xong toàn bộ số nợ vốn và lãi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) có trách nhiệm trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 bản chính: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CV 966787, số vào số cấp GCN CH15706 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 20-8-2020 cho bà Nguyễn Thị Kim H1 đứng tên sử dụng, được Văn phòng Đ1 chi nhánh L1 điều chỉnh biến động sang tên ông Nguyễn Văn S1, bà Trần Kỳ D ngày 03-11-2020; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 959887, số vào sổ cấp GCN CS16099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 17-11-2020 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CL 922947, số vào sổ cấp GCN CS11086 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 22-03-2018 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Kỳ D đứng tên sử dụng.
4. Về chi phí tố tụng: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên S2 phải chịu 113.808.840 đồng (Một trăm mười ba triệu, tám trăm lẻ tám nghìn, tám trăm bốn mươi đồng) án phí sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) số tiền tạm ứng án phí 56.642.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi hai nghìn đồng) mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2022/0009447 do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên cấp ngày 31 tháng 10 năm 2023.
6. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sỹ Bảo Ngọc về tranh chấp hợp đồng tín dụng
