Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/KDTM -ST

Ngày: 21/08/2024

V/v: Yêu cầu thanh toán tiền mua hàng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khiêm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền và ông Trần Ánh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21/08/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2024/TLST - KDTM ngày 07 tháng 05 năm 2024 về việc “Yêu cầu thanh toán tiền mua hàng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXX - ST ngày 23 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2024/QĐST-KDTM ngày 09/08/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần O; Địa chỉ: Đường số B, KCN T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh P – Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H; Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Theo Giấy uỷ quyền ngày 24/08/2023). Có mặt

- Bị đơn: Công ty TNHH X (Trước đây là Công ty cổ phần X); địa chỉ: Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L - Chức vụ: Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị L1; Địa chỉ; xóm M, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Theo giấy uỷ quyền ngày 02/11/2023). Có mặt

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn Công ty cổ phần O – đại diện theo uỷ quyền là bà Nguyễn Thị H trình bày: Ngày 02/01/2022, Công ty cổ phần O đã ký với Công ty TNHH X Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT với nội dung: Công ty cổ phần O đồng ý cung cấp các sản phẩm sơn cao cấp cho gỗ cho Công Ty cổ phần X (sau đây gọi tắt là “Công ty X”) với chủng loại, mặt hàng, số lượng và giá cả cụ thể theo từng đơn đặt hàng giữa hai bên.

Đơn giá do Công ty cổ phần O báo giá bằng văn bản gửi cho Công ty X; số lượng hoàng hoá và chủng loại sản phẩm của mỗi đơn hàng do Công ty X đặt hàng qua điện thoại hoặc tin nhắn; thời gian thanh toán là sau 30 ngày kể từ ngày Công ty X nhận hàng, trường hợp bên Công ty X không thanh toán đúng thời hạn quy định thì phải trả thêm lãi suất quá hạn cho Công ty cổ phần O với mức lãi suất là 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty cổ phần O luôn giao hàng đúng hạn và chính xác về chủng loại, mặt hàng, số lượng và giá cả theo đơn đặt hàng và thoả thuận giữa hai bên. Tuy nhiên công ty X lại vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Công ty cổ phần O.

Căn cứ theo Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ký kết ngày 02 tháng 01 năm 2022, bên Công ty X phải trả tiền mua hàng sau 30 ngày kể từ ngày nhận được hàng, nhưng cho đến nay Công ty X vẫn không thanh toán dứt điểm công nợ phát sinh từ các Hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022, Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023, Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023 cụ thể:

Ngày 30/12/2022, Công ty X đặt mua Công ty O đơn hàng giá 131.762.400 đồng (Theo Hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022)

Ngày 13/07/2023, Công ty X đặt mua Công ty O đơn hàng giá 17.318.400 đồng (Theo Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023)

Ngày 14/7/2023, Công ty X đặt mua Công ty O đơn hàng giá 17.935.600 đồng (Theo Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023)

Tổng giá trị ba hóa đơn là 167.017.400 đồng.

* Đối với đơn hàng theo hoá đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022 Công ty X đã thanh toán cho Công ty O những khoản sau đây vào số nợ gốc theo Hóa đơn:

  • - Thanh toán 7.288.400 đồng vào ngày 14/7/2023
  • - Thanh toán: 5.830.000 đồng vào ngày 24/10/2023
  • - Thanh toán 10.000.000 đồng vào ngày 31/10/2023
  • - Thanh toán 946.000 đồng vào ngày 29/11/2023
  • - Thanh toán 6.908.800 đồng vào ngày 24/01/2024
  • - Thanh toán 5.000.000 đồng vào ngày 16/03/2024
  • - Thanh toán 5.000.000 đồng vào ngày 20/5/2024

Số công nợ gốc theo hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022 mà Công ty X chưa thanh toán được cho Công ty O là: 90.789.200 đồng

* Đối với đơn hàng theo 02 hóa đơn gồm: Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023; Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023 thì Công ty X chưa thanh toán được bất cứ khoản nào để cấn trừ vào số nợ gốc của 02 Hóa đơn này nên số công nợ gốc mà Công ty X chưa thanh toán được cho Công ty O theo 02 hoá đơn này vẫn còn nguyên là: 35.255.000 đồng

Ngoài các khoản thanh toán nêu trên thì cho đến phiên toà ngày hôm nay, Công ty X vẫn chưa thanh toán thêm cho Công ty cổ phần O được bất cứ một khoản thanh toán nào khác đối với công nợ phát sinh từ 03 hoá đơn GTGT bao gồm; Hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022, Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023, Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023

Tính đến ngày 21/08/2024, tổng số công nợ gốc phát sinh từ 03 hóa đơn gồm: Hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022, Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023, Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023 mà Công ty X chưa thanh toán được cho Công ty cổ phần O còn lại là: 126.044.200 đồng.

* Về lãi suất quá hạn, H1 bên công ty thỏa thuận như sau: Trường hợp bên Công ty X không thanh toán đúng thời hạn quy định thì phải trả thêm lãi suất quá hạn cho Công ty cổ phần O với mức lãi suất là 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng.

Đối với Hoá đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022, Công ty X vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 30/01/2023, lãi suất quá hạn sẽ được tính theo mức 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng kể từ ngày 30/01/2023, trường hợp Công ty X thanh toán tiền trừ vào số công nợ gốc theo hoá đơn này thì số lãi quá hạn sẽ được tính với mức 1,5% /giá trị lô hàng chậm thanh toán (tức là số công nợ gốc còn lại sau khi đã trừ đi số tiền được thanh toán)/tháng.

Đối với Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023, Công ty X vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 13/08/2023, lãi suất quá hạn sẽ được tính theo mức mức 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng kể từ ngày 13/08/2023.

Đối với Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023, Công ty X vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 14/08/2023, lãi suất quá hạn sẽ được tính theo mức mức 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng kể từ ngày 14/08/2023.

Hàng tháng Công ty cổ phần O vẫn thường gửi bảng tính lãi quá hạn cho Công ty X để theo dõi.

Tính đến ngày 21/08/2024, Công ty X chưa thanh toán được lãi quá hạn trên số công nợ chậm trả phát sinh từ Hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022, Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023, Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023 cho Công ty cổ phần O với số tiền là 37.456.353 đồng.

Tại phiên toà, Công ty cổ phần O yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Yêu cầu Công ty TNHH X phải thanh toán cho Công ty cổ phần O công nợ tính đến ngày 21/08/2024 là: 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353. đồng.

Công ty TNHH X sẽ bị tiếp tục chịu lãi quá hạn kể từ ngày 21/08/2024 với lãi suất 1,5%/giá trị lô hàng chậm thanh toán/tháng cho đến khi thanh toán toàn bộ công nợ theo quy định tại Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ký ngày 02/01/2022.

Công ty TNHH X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

* Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, bị đơn Công ty TNHH X– đại diện theo uỷ quyền là bà Vũ Thị L1 trình bày:

Ngày 02/01/2022, Công ty TNHH X đã ký với Công ty cổ phần O Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT với nội dung: Công ty cổ phần O đồng ý cung cấp các sản phẩm sơn cao cấp cho gỗ cho Công Ty cổ phần X (sau đây gọi tắt là “Công ty X”) với chủng loại, mặt hàng, số lượng và giá cả cụ thể theo từng đơn đặt hàng giữa hai bên.

Căn cứ theo Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ký kết ngày 02/01/2022, bên Công ty X phải trả tiền mua hàng sau 30 ngày kể từ ngày đặt hàng, trường hợp thanh toán không đúng hạn thì phải chịu lãi suất quá hạn là 1,5%/giá trị lô hàng chậm thanh toán/tháng.

Tuy nhiên, do Công ty X đang gặp phải hoàn cảnh khó khăn nên chưa thể toán dứt điểm công nợ cho Công ty cổ phần O đối với những đơn hàng theo các Hóa đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022, Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023, Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023.

Công ty B quá trình thực hiện hợp đồng, việc đối chiếu công nợ giữa hai bên, số nợ gốc, nợ lãi và việc nhắc nợ như Công ty cổ phần O trình bày là đúng. Cụ thể:

Công ty B số công nợ tính đến ngày 21/08/2024 là: 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353 đồng là đúng.

Công ty X đồng ý trả số công nợ gốc là 126.044.200 đồng còn số tiền lãi thì Công ty X xin được miễn không phải trả do công ty đang trong hoàn cảnh khó khăn không thể thanh toán phần tiền lãi này

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được hội đồng xét xử xem xét tại phiên toà, ý kiến tranh luận của các đương sự, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở cần chấp nhận

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 30, 35, 39, 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, 50, 55, 306 của Luật Thương mại; Điều 430, Điều 433, điều 440, Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tố cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên:

* Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần O về việc yêu cầu:

Công ty TNHH X phải thanh toán cho Công ty cổ phần O công nợ tính đến ngày 21/08/2024 là: 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353. đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn - Công ty TNHH X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Công ty cổ phần O khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH X thanh toán số tiền công nợ liên quan đến Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT với nội dung mua bán hàng hoá là sơn cao cấp. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại tranh chấp về hợp đồng nguyên tắc theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Công ty TNHH X có trụ sợ hoạt động tại Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình tố tụng, Toà án thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không có khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tiến hành tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, nên hành vi, quyết định tố tụng là hợp pháp, tuân thủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Công ty cổ phần O khởi kiện yêu cầu:

Công ty TNHH X phải thanh toán cho Công ty cổ phần O công nợ tính đến ngày 21/08/2024 là: 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353. đồng.

Công ty TNHH X sẽ bị tiếp tục chịu lãi quá hạn kể từ ngày 21/08/2024 với lãi suất 1,5%/giá trị lô hàng chậm thanh toán/tháng cho đến khi thanh toán toàn bộ công nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ký ngày 02/01/2022.

Công ty TNHH X phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Giữa Công ty cổ phần O và Công ty TNHH X có ký với nhau Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ngày 02/01/2024. Về bản chất, hợp đồng Nguyên tắc mà hai bên ký kết chính là một hợp đồng mua bán hàng hoá, theo đó, Công ty cổ phần O đồng ý cung cấp các sản phẩm sơn cao cấp cho gỗ cho Công Ty X với chủng loại, mặt hàng, số lượng và giá cả cụ thể theo từng đơn đặt hàng giữa hai bên. Đơn giá do Công ty cổ phần O báo giá bằng văn bản gửi cho Công ty X; số lượng hoàng hoá và chủng loại sản phẩm của mỗi đơn hàng do Công ty X đặt hàng qua điện thoại hoặc tin nhắn; thời gian thanh toán là sau 30 ngày kể từ ngày Công ty X nhận hàng, trường hợp bên Công ty X không thanh toán đúng thời hạn quy định thì phải trả thêm lãi suất quá hạn cho Công ty cổ phần O với mức lãi suất là 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng. Nội dung trong Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ngày 02/01/2024 cũng như thoả thuận về lãi suất chậm trả thể hiện ý chí thoả thuận tự nguyện của hai bên, không trái quy định pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện.

* Đối với số công nợ gốc:

Công ty cổ phần O yêu cầu Công ty TNHH X phải thanh toán cho Công ty cổ phần O công nợ gốc tính đến ngày 21/08/2024 là 126.044.200 đồng;

Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn thống nhất lời khai về quá trình thực hiện hợp đồng, việc đối chiếu công nợ giữa hai bên.

Tại phiên toà ngày hôm nay, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận số công nợ gốc tính đến ngày 21/08/2024 là 126.044.200 đồng. Như vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán công nợ gốc 126.044.200 đồng tính đến ngày 21/08/2024 là có căn cứ

* Đối với lãi suất quá hạn:

Tại phiên toà, nguyên đơn - Công ty cổ phần O xuất trình thêm tài liệu, căn cứ tính lãi, bảng tính lãi quá hạn tính đến ngày 21/08/2024 đồng thời yêu cầu:

Bị đơn trả lãi suất quá hạn tính đến ngày 21/08/2024 là 37.456.353 đồng

Bị đơn sẽ tiếp tục chịu lãi quá hạn kể từ ngày 21/08/2024 với lãi suất 1,5%/giá trị lô hàng chậm thanh toán/tháng cho đến khi thanh toán toàn bộ công nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ký ngày 02/01/2022.

Bị đơn - Công ty TNHH X thừa nhận phần lãi suất quá hạn 37.456.353 đồng tính đến ngày 21/08/2024 là đúng nhưng xin được miễn trả phần lãi suất quá hạn này do bị đơn đang gặp hoàn cảnh khó khăn không có khả trả nợ lãi.

Xét thấy, tại Hợp đồng nguyên tắc số 02/22/HĐNT ký ngày 02/01/2022 có thoả thuận về điều khoản thanh toán, cụ thể khoản 3.3 Điều 3 Hợp đồng có quy định: “Trong trường hợp Bên A không thanh toán đúng thời hạn quy định thì phải trả thêm lãi suất quá hạn cho bên B, với mức lãi là 1,5%/giá trị lô hàng chậm thanh toán/tháng”.

Công ty cổ phần O1 đã tính lãi suất chậm trả với mức lãi suất là 1,5% /giá trị của lô hàng chậm thanh toán/tháng theo đúng quy định trong hợp đồng nguyên nguyên tắc số 02/22/HĐNT ngày 02/01/2024 đối với số công nợ chậm trả phát sinh từ 03 hoá đơn gồm: Hoá đơn GTGT số 00001245 ngày 30/12/2022; Hóa đơn GTGT số 00000637 ngày 13/07/2023; Hóa đơn GTGT số 00000647 ngày 14/7/2023.

Mức lãi suất được tính phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật thương mại 2005; Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, thời điểm yêu cầu tính lãi phù hợp với thời điểm xuất hoá đơn và số công nợ gốc bị tính lãi phù hợp với số tiền theo hoá đơn, phù hợp với số công nợ gốc còn lại bị tính lãi quá hạn sau mỗi lần Công ty X thanh toán. Tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn thống nhất lãi suất quá hạn tính đến ngày 21/08/2024 là 37.456.353 đồng, bị đơn xin được miễn trả phần lãi này nhưng nguyên đơn không đồng ý. HĐXX nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi suất quá hạn nêu trên

Như vậy, tính đến ngày 21/08/2024 tổng số công nợ mà Công ty X còn chưa thanh toán cho Công ty O là 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353. đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty cổ phần O luôn giao hàng đúng hạn và chính xác về chủng loại, mặt hàng, số lượng và giá cả theo đơn đặt hàng và thoả thuận giữa hai bên, tuy nhiên, Công ty X chưa thanh toán cho Công ty O số công nợ nêu trên là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại điều 50, 55 của Luật Thương mại, do đó yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần O là có cơ sở, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, HĐXX cần xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần O:

Buộc Công ty TNHH X có nghĩa vụ thanh toán cho công ty cổ phần O công nợ tính đến ngày 21/08/2024 là: 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353. đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn - Công ty TNHH X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

[3.] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 24, 50, 55, 306 của Luật Thương mại;

Căn cứ Điều 430, 433, 440, 357 và 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần O
    • - Buộc Công ty TNHH X có nghĩa vụ thanh toán cho công ty cổ phần O công nợ tính đến ngày 21/08/2024 là: 163.500.533 đồng trong đó: Nợ gốc là 126.044.200 đồng; Nợ lãi là 37.456.353. đồng.
    • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn - Công ty TNHH X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH X phải chịu 6.302.210 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    • Trả lại cho Công ty cổ phần O số tiền 4.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001287 ngày 07/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty cổ phần O và bị đơn Công ty TNHH X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lương Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Lương Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khiêm

9

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về yêu cầu thanh toán tiền mua hàng

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thanh toán tiền mua hàng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần O + Công ty TNHH X
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger