TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/KDTM- ST
Ngày: 19/8/2024
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Bắc
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Thanh Hải
2. Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Lệ Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-KDTM ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B
Địa chỉ: Tòa nhà H, Số D N, phường E, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Người Đại dện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình A – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ (Quyết định số 846/BVBank/UQ-QL&THN ngày 14 tháng 12 năm 2023).
- Người được ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Phạm Văn N– Chức vụ: Trưởng bộ phận thu hồi nợ hiện trường; Ông Trịnh Thế A1, Ông Nguyễn Văn M- Cán bộ Trung tâm quản lý và thu hồi nợ. (Theo Giấy uỷ quyền số 110/24/BVBank/UQ-QL& THN ngày 23/02/2024 của Giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ). Ông Trịnh Thế A1 có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 – Vắng mặt (Có đơn xin xử vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang lao động bất hợp pháp tại Đài Loan, Trung Quốc.
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1986 – Có mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, lời khai tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP B (Nguyên đơn) ông Phạm Văn N trình bày:
Tháng 10 năm 2022, Ngân hàng TMCP B (Viết tắt là BV B1) có ký Hợp đồng tín dụng với ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 với nội dung chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số: 0922200020300 ngày 05/10/2022: Số tiền cho ông H, bà T1 vay: 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán sơn; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay: Được quy định tại từng giấy nhận nợ. BV B1 và ông/bà: Nguyễn Văn H đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng số 09222000210TD ngày 30/01/2023, theo đó BV B1 đã cấp hạn mức tín dụng cho ông Nguyễn Văn H là 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng). BV B1 đã giải ngân khoản vay cho ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 với tổng số tiền là 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể theo các giấy nhận nợ sau:
Giấy nhận nợ số: 0922200020300002 ngày 21/4/2023: Số tiền giải ngân: 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán sơn; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay: 14,29%/năm. Lãi suất của toàn bộ dư nợ phát sinh nêu trên sẽ do BV B1 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần kể từ tháng thứ 4, với mức lãi suất bằng lãi suất cơ sở của BV B1 tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,29%/năm. Nếu ngày điều chỉnh là ngày nghỉ, ngày lễ mà BV B1 không làm việc thì BV B1 có quyền quyết định ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc tiếp theo của BV B1. Định kỳ điều chỉnh lãi suất không bắt buộc mà phụ thuộc vào quyết định của BV B1.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Văn H bà Trần Thị T1 đã ký với BV B1 Hợp đồng thế chấp số: [...] ngày 05/10/2022, số công chứng 4743 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Thái Nguyên chứng nhận, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 12/10/2022. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ BĐS tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10, địa chỉ tại thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 660558, số vào sổ cấp GCN: CS 00155, do Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh T cấp ngày 06/09/2022 thuộc sở hữu/sử dụng của Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 .
Trong quá trình vay vốn ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc cũng như nợ lãi đối với BV B1. BV B1 đã nhiều lần liên hệ làm việc trực tiếp, tạo điều kiện để ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B. Tuy nhiên, ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho BV B1, vi phạm nghiêm trọng các nội dung thỏa thuận mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ xấu nhóm 4, quá hạn vốn kể từ ngày 20/10/2023, quá hạn lãi ngày 25/7/2023.
Tạm tính đến ngày 19/8/2024 ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 đã thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và Thẻ tín dụng tổng số tiền 42.763.246đ (Bốn mươi hai triệu, bảy trăm sáu mươi ba nghìn, hai trăm bốn mươi sáu đồng) cụ thể:
- Theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số: 0922200020300 ngày 05/10/2022, trả cho BV số tiền như sau:
+ Dư nợ gốc đã thanh toán: 0 đồng;
+ Lãi trong hạn đã thanh toán: 29.363.014 đồng;
+ Phạt chậm trả gốc đã thanh toán: 0 đồng;
+ Phạt chậm trả lãi đã thanh toán: 47 đồng;
Tổng số tiền đã thanh toán: 29.363.061 đồng.
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng số 09222000210TD ngày 30/01/2023. Gốc: 13,191,805 đồng.
Tổng số tiền nợ gốc và lãi, tạm tính đến ngày 19/8//2024 ông H và bà T1 còn nợ BV B1 tổng số tiền là 1.030.784.409đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm linh chín đồng), cụ thể theo từng hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ như sau:
* Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số: 0922200020300 ngày 05/10/2022, chi tiết như sau:
+ Nợ gốc: 750.000.000 đồng;
+ Lãi trong hạn: 114.382.808 đồng;
+ Lãi chậm trả lãi: 3.017.042 đồng;
+ Lãi quá hạn: 122.067.740 đồng;
Tổng cộng: 989.467.590 đồng.
* Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng số 09222000210TD ngày 30/01/2023, chi tiết như sau:
+ Nợ gốc: 26.482.424 đồng;
+ Lãi thẻ tín dụng: 14.834.395 đồng;
Tổng cộng: 41.316.819 đồng.
Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP B (BV B1) đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên:
Buộc ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 phải thanh toán ngay cho BV B1 toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm là ngày 19/8/2024 tổng số tiền là: 1.030.784.409đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm linh chín đồng).
Buộc ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 phải chịu toàn bộ số tiền lãi, phí/phạt phát sinh kể từ ngày 19/8/2024 theo mức lãi suất được quy định trong Hợp đồng tín dụng số: 0922200020300 ngày 05/10/2022, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng điện tử số 09222000210TD ngày 30/01/2023 cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi cho BV B1.
Trường hợp ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thì BV B1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số: 0922200020400 ngày 05/10/2022, số công chứng 4743 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Thái Nguyên chứng nhận. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ BĐS tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10, địa chỉ tại thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 660558, số vào sổ cấp GCN: CS 00155, do Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh T cấp ngày 06/09/2022 thuộc sở hữu/sử dụng của Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 .
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 tại BV B1. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn thiếu cho BV B1.
Buộc ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 phải chịu toàn bộ chi phí trong quá trình tố tụng.
* Ý kiến của bị đơn bà Trần Thị T1 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Vợ chồng bà có vay vốn Ngân hàng TMCP B với số tiền là 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) mục đích là để đầu tư trang trại chăn nuôi lợn, gà và cửa hàng bán sơn theo ngành nghề kinh doanh đã đăng ký theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 17F8008961 do Phòng Tài chính– Kế hoạch thuộc UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 21/7/2022, khi vay vốn vợ chồng bà có thế chấp nhà đất tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10, thuộc thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 660558, số vào sổ cấp GCN: CS 00155, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 06/09/2022 thuộc sở hữu/sử dụng của vợ chồng là Nguyễn Văn H, Trần Thị T1, hiện tại vợ chồng bà không có khả năng trả Ngân hàng do đầu tư làm ăn bị dịch bệnh, thua lỗ, không thu hồi được vốn.
Số tiền vợ chồng bà còn nợ BV B1, tạm tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 19/8/2024 là 1.030.784.409đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm linh chín đồng).
Bà có nguyện vọng đề nghị BV B1 và Tòa án cho vợ chồng bà phối hợp với BV B1 bán tài sản thế chấp để trả nợ cho BV B1. Vì kinh tế khó khăn nên chồng bà (ông Nguyễn Văn H) đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ khoảng cuối năm 2023 không có mặt tại địa phương. Bà đã điện thoại trao đổi với ông H về việc BV B1 khởi kiện ra Tòa án đòi nợ, ông H nói do mới sang bên Đài Loan làm ăn chưa có tiền để trả nợ, xin Tòa án tạo điều kiện cho gia đình phối hợp với BV B1 bán tài sản bảo đảm để trả nợ cho BV B1. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án để giải quyết vụ án và đã thông báo đầy đủ cho ông H biết qua zalo, quan điểm của ông H nhất trí với số tiền nợ gốc là 750.000.000 đồng và số nợ lãi phát sinh theo tính toán của BV B1.
Tại phiên tòa, bà T1 nhất trí với việc tính toán số tiền nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn do BV B1 tính toán, hiện nay vợ chồng bà đang nợ BV B1 số tiền gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/8/2024 là 1.030.784.409đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm linh chín đồng). Hiện nay ông H (chồng bà) đi lao động tại Đài Loan đang là lao động tự do bất hợp pháp nên không về nước được, ông H không đăng ký với Cục Q tại Đài Loan và không biết tiếng Đài Loan nên mọi giao dịch có liên quan đến người nước ngoài ông H cũng không biết.
Hiện tại vợ chồng bà không có khả năng trả nợ BV B1 và có nguyện vọng đề nghị Tòa án cho vợ chồng bà phối hợp với BV B1 được bán tài sản đã thế chấp với BV B1 để trả nợ, trường hợp số tài sản bán được không đủ để trả nợ cho BV B1 thì vợ chồng bà vẫn tiếp tục trả số nợ còn thiếu cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc và lãi tính đến thời điểm trả hết nợ. Vì kinh tế gia đình hiện nay rất khó khăn, không trả được tiền lãi và gốc cho BV B1 nên bà T1 mong Ngân hàng khoanh nợ và giảm lãi suất cho vợ chồng bà. Ông Nguyễn Văn H đã có bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, xin Ngân hàng tạo điều kiện cho vợ chồng bán tài sản bảo đảm để trả nợ cho Ngân hàng.
Ngày 13/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thụ lý vụ án số 02/TB-TLVA, sau khi khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập các bên đương sự nhưng ông H vắng mặt, bà T1 có mặt. Bà T1 trình bày ông H (chồng bà) hiện không có mặt tại địa phương mà đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, Trung Quốc.
Ngày 15/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ ra Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản của ông H, bà T1 thế chấp với BV B1. Kết quả thẩm định xác định: Về cơ sở pháp lý: Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10, thuộc thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 660558, số vào sổ cấp GCN: CS 00155, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 06/09/2022 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 . (Sơ đồ thửa đất thể hiện trên GCN QSD đất).
Về hiện trạng thửa đất: Trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10 có 01 nhà cấp 4 xây dựng 02 tầng, diện tích 40 m²/2 sàn xây dựng khoảng năm 2000, không có giấy phép xây dựng. Trên tầng 02 có lợp mái tôn trần nhựa; Tầng 1 có mái hiên đua sân khoảng 12 m², có kèo sắt, cửa xếp, xung quanh mái đua sân có tường bao sân xây gạch tường 10, trụ tường 20 cm, chiều cao khoảng 2,6m, 01 cao khoảng 1,8 m, phía trên tường bao có rào sắt phi 10/10 m².
- Vị trí nhà:
+ Phía Bắc: Giáp trục chính đường dân sinh;
+ Phía Tây: Giáp đất bà H1;
+ Phía Đông và phía Nam giáp đất còn lại của gia đình là đất vườn, trên đất có cây tạp gồm 15 cây xoan, 01 cây xoài, 01 cây na, 01 cây mít đường kính khoảng từ 5-10 cm; Xung quanh cả thửa đất xây tường rào gạch đỏ, đã cũ.
- Đất vườn còn lại có vị trí:
+ Phía Đông: Giáp đường bê tông;
+ Phía Nam: Giáp đường đất;
+ Phía Tây: Giáp đất bà H1;
+ Phía Bắc: Giáp tường nhà và đường bê tông; Phía sau nhà có 01 bếp cũ xây khoảng 10 m² không có mái đã mục nát.
Ngày 15/4/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ có Công văn số 258/CV-TA xác minh thông tin xuất, nhập cảnh đối với ông Nguyễn Văn H. Ngày 02/5/2024 Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh T có Công văn số 1523/PQLNXC(DD1) cung cấp thông tin được khai thác trong kho dữ liệu xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam do Cục Q1, Bộ C1 quản lý, công dân Nguyễn Văn H, sinh ngày 02/05/1986; CCCD số: [...]; Nơi thường trú: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã được cấp hộ chiếu và đã xuất cảnh ngày 09/7/2023 qua cửa khẩu N1. Hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Ngày 12/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ ra Quyết định số 01/2024/QÐST-KDTM chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để giải quyết theo thẩm quyền.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên tòa được tống đạt trực tiếp cho bà Trần Thị T1, bà T1 xác định đã gửi đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông H qua Zalo, ông H đã nhận được và có gửi về cho Tòa án qua dịch vụ bưu chính 02 Đơn đề ngày 25/7/2024 (01 đơn đề nghị không tham gia phiên hòa giải và 01 đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Ngày 06/8/2024 Tòa án đã làm việc với bà T1, bà T1 xác định chữ ký và chữ viết Nguyễn Văn H trong 02 đơn đề nghị ghi ngày 25/7/2024 là chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Văn H (chồng bà).
Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho BV B1 toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 19/8/2024 số tiền 1.030.784.409₫ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm linh chín đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông H, bà T1 tiếp tục phải trả số nợ lãi trên số nợ gốc cho đến khi trả hết số tiền nợ gốc và lãi đến thời điểm trả hết nợ. Trường hợp ông H, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên thì BV B1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết vụ án. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được các bên tự nguyện ký kết, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nay Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo quy định pháp luật là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền đề nghị kê biên phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí KDTM sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ngân hàng TMCP B (BV B1) có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1, hai bên đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS. Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 có cùng nơi cư trú tại: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, hiện tại ông Nguyễn Văn H đã xuất cảnh và đang lao động bất hợp pháp tại Đài Loan, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn H thông qua bà Trần Thị T1 (vợ ông H), Ông H xác nhận đã nhận được đầy đủ văn bản tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên do ông H vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được mà phải đưa ra xét xử công khai. Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt gửi từ Đài Loan cho Tòa án, bà Trần Thị T1 đã xác nhận chữ ký, chữ viết đúng là của ông H; do đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn H.
[2]. Về nội dung:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B (BV B1) về Hợp đồng tín dụng số: 0922200020300 ngày 05/10/2022: Số tiền vay cho ông H, bà T1 vay: 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán sơn; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay: Được quy định tại từng giấy nhận nợ. BV B1 và ông/bà: Nguyễn Văn H đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng điện tử số 09222000210TD ngày 30/01/2023, theo đó BV B1 đã cấp hạn mức tín dụng cho ông Nguyễn Văn H là 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng). BV B1 đã giải ngân khoản vay cho ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 với tổng số tiền là 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể theo các giấy nhận nợ sau:
Giấy nhận nợ số: 0922200020300002 ngày 21/04/2023: Số tiền giải ngân: 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán sơn; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay: 14,29%/năm. Lãi suất của toàn bộ dư nợ phát sinh nêu trên sẽ do BV B1 quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần kể từ tháng thứ 4, với mức lãi suất bằng lãi suất cơ sở của BV B1 tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,29%/năm. Nếu ngày điều chỉnh là ngày nghỉ, ngày lễ mà BV B1 không làm việc thì BV B1 có quyền quyết định ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc tiếp theo của BV B1. Định kỳ điều chỉnh lãi suất không bắt buộc mà phụ thuộc vào quyết định của BV B1.
Việc ký kết các hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP B (BV B1) với ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng có hiệu lực và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng các nội dung đã được thỏa thuận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H, bà T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng, khoản nợ trên đã chuyển sang quá hạn. Toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ xấu nhóm 4, quá hạn vốn kể từ ngày 20/10/2023, quá hạn lãi ngày 25/7/2023.
Xét thấy, Ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B (BV B1) theo đúng thời hạn thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng là vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Do đó, Ngân hàng TMCP B (BV B1) yêu cầu ông H, bà T1 phải trả toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 19/8/2024 với tổng số tiền là 1.030.784.409đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốm trăm linh chín đồng) là có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 còn phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2.2. Về Hợp đồng thế chấp số: [...] ngày 05/10/2022, số công chứng 4743 quyển số 04/2022 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Thái Nguyên chứng nhận, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đăng ký thế chấp ngày 12/10/2022. Tài sản thế chấp là: Toàn bộ BĐS tại thửa đất số 22, tờ bản đồ số: 10, địa chỉ: thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 660558, số vào sổ cấp GCN: CS 00155, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 06/09/2022 thuộc sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 là để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay nêu trên.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp tài sản được các bên tự nguyện ký kết, hợp đồng được công chứng và được cam kết bảo đảm bằng tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là căn nhà xây 2 tầng diện tích 80m² trên thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là đúng quy định của pháp luật. Do đó, ông H, bà T1 thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật.
[3]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về chi phí tố tụng: Ngân hàngTMCP Bản Việt (BV B1) tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 20.000.000 đồng (đã thực hiện xong).
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch nộp vào Ngân sách nhà nước theo quy định.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 274, 275, 278, 280, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 327 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B (BV B1). Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP B (BV B1) số tiền gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (19/8/2024) là 1.030.784.409đ (Một tỷ không trăm ba mươi triệu, bảy trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm linh chín đồng) theo Hợp đồng tín dụng số: 0922200020300 ngày 05/10/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng Đ 09222000210TD ngày 30/01/2023.
Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản tiền nói trên cho Ngân hàng TMCP B (BV B1) thì Ngân hàng TMCP B (BV B1) có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, cụ thể:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo GCN QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 660558, số vào sổ cấp GCN: CS 00155, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 06/09/2022 thuộc sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản thế chấp nêu trên được dùng để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 đối với Ngân hàng TMCP B (BV B1), nếu dư Ngân hàng TMCP B (BV B1) sẽ trả lại cho bên thế chấp ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị Thao . Nếu số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản trên không đủ để thanh toán cho Ngân hàng TMCP B (BV B1), thì ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP B (BV B1) cho đến khi thi hành xong.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 phải nộp 42.923.532₫ (Bốn mươi hai triệu, chín trăm hai mươi ba nghìn, năm trăm ba mươi hai đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch vào Ngân sách nhà nước.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (19/8/2024), ông Nguyễn Văn H, bà Trần Thị T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 0922200020300 ngày 05/10/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng, mở, sử dụng tài khoản thanh toán và đăng ký dịch vụ Ngân hàng điện tử số 09222000210TD ngày 30/01/2023 cho đến khi thi hành án xong khoản nợ gốc này.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B (BV B1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.433.000đ (Mười tám triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007109 ngày 13/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện Ngân hàng TMCP B (BV B1) và bà Trần Thị T1, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt ông Nguyễn Văn H, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 01/2024/KDTM- ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tháng 10 năm 2022, Ngân hàng TMCP B (Viết tắt là BV B1) có ký Hợp đồng tín dụng với ông/bà: Nguyễn Văn H, Trần Thị T1 với nội dung chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số: 0922200020300 ngày 05/10/2022: Số tiền cho ông H, bà T1 vay: 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán sơn; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất cho vay: Được quy định tại từng giấy nhận nợ.
