|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/KDTM-ST
Ngày: 29-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Thiện
- Bà Trần Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2023/TLST-KDTM ngày 12 tháng 12 năm 2023; về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (O)
Địa chỉ trụ sở chính: Số D và D L, phường B, quận A, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn L, chức vụ: Giám đốc MSME kiêm PGĐ Chi nhánh A.
Ủy quyền lại cho: Ông Trần Nguyễn, sinh năm 1988, chức vụ: Trưởng BP thu hồi nợ.
Địa chỉ: Tầng A và 2 Tòa nhà Hòa Bình B, số A, đường H, phường A, quận N, thành phố C.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X;
Địa chỉ: Số D khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện: Bà Nguyễn Thị Ú, chức danh: Giám đốc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên X;
- Bà Nguyễn Nguyệt Tuyết N, sinh năm 1982;
- Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1969;
Địa chỉ: QL80, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện: Bà Nguyễn Thị Ú, chức vụ: Chủ tịch kiêm Giám đốc.
Địa chỉ: Số D khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số D khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ.
(Ông Trần Nguyễn có m tại phiên tòa; các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (OCB) do ông Trần Nguyễn đại d theo ủy quyền trình bày:
Ngày 14/7/2020 Công ty Trách nhiệm hữu hạX (TNHH) xăng dầu Tùng C (Gọi tắt là Công ty X) đã ký với Ngân hàng thương mại cổ phần P (Gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng hạn mức số ST20015388/2020/CAG/HĐTDHM (Gọi tắt là Hợp đồng) để vay vốn với hạn mức cho vay ngắn hạn tối đa là 30.000.000.000₫ (Ba mươi tỷ đồng). Thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất trong hạn cố định 8,8%/năm trong ba tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh xăng dầu. Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng là 17/10/2020. Về Phương thức trả nợ: Trả nợ gốc cuối kỳ vào ngày 17/10/2020; Trả lãi theo định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 25 tây của tháng theo dư nợ thực tế. Kỳ trả lãi đầu tiên là ngày 25/7/2020.
Sau khi ký hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân số tiền 23.000.000.000₫ (Hai mươi ba tỷ đồng) cho Công ty X theo khế ước nhận nợ số ST20015388/2020/CAG/KUNN ngày 17/7/2020.
Để đảm bảo cho khoản vay của Công ty X, bà Nguyễn Thị Ú đã dùng tài sản là các quyền sử dụng đất (QSDĐ) và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của bà Ú thế chấp cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST20015388A/2020/CAG/HĐTC ngày 16/7/2020 đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Các tài sản đảm bảo gồm:
- - Tài sản 1: QSDĐ thửa 431, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 824,3m² (ONT) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
- - Tài sản 2: QSDĐ thửa 432, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 786m² (ONT) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
2
- - Tài sản 3: QSDĐ thửa 416, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 300m² (ONT) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. Tài sản gắn liền với 3 thửa đất 431, 432, 416 gồm: Nhà vệ sinh; Khu nhà văn phòng nhân viên và ăn uống (trệt); Mái che trụ bơm; Nhà ở văn phòng giao dịch (trệt).
- - Tài sản 4: QSDĐ thửa 417, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 2506,7m² (L) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
- - Tài sản 5: QSDĐ thửa 122, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 2063,7m² (L) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. Tài sản gắn liền với 2 thửa đất 417, 122 gồm: Sân đường bê tông; Tường rào.
Ngày 16/7/2020 và ngày 20/7/2020 bà Ú cùng Công ty TNHH MTV X có văn bản cam kết với ngân hàng: bà Ú đồng ý tự nguyện dùng tài sản gắn liền với các thửa đất thuộc sở hữu của bà Ú nêu trên thế chấp cho ngân hàng để bảo đảm cho các khoản vay của bà Ú và/hoặc Công ty X tại ngân hàng O.
Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà các bên đã thỏa thuận, ký kết. Cụ thể, Công ty X chỉ trả được hết kỳ lãi đến ngày 25/9/2020 thì ngưng cho đến nay và gốc chưa trả cho ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay Công ty X vẫn không thanh toán nợ vay cho ngân hàng. Vì vậy, Công ty X đã vi phạm cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết đã ký với OCB. Từ khi vay cho đến nay Công ty X chỉ mới thanh toán cho ngân hàng được 394.268.789đ tiền lãi và chưa trả nợ gốc cho ngân hàng. Tính đến ngày 13/5/2024 nghĩa vụ của Công ty X là 34.004.614.645₫ (Trong đó vốn 23.000.000.000đ và lãi 11.004.614.645đ).
Nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu Công ty TNHH X trả số tiền vay 34.004.614.645₫ (Trong đó vốn 23.000.000.000đ và lãi 11.004.614.645đ tính đến ngày 13/5/2024) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng từ ngày 14/5/2024 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số ST20015388A/2020/CAG/HĐTC ngày 16/7/2020; văn bản cam kết giữa Công ty TNHH MTV X với Ngân hàng ngày 16/7/2020 và văn bản cam kết giữa bà Nguyễn Thị Ú với Ngân hàng ngày 20/7/2020 để thu hồi nợ. Ngoài ra, Ngân hàng không còn yêu cầu nào khác.
* Bị đơn Công ty TNHH X; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV X cùng do bà Nguyễn Thị Ú đại diện theo pháp luật; bà Nguyễn Thị Ú với tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên trình bày:
Bà Nguyễn Thị Ú hiện là giám đốc Công ty TNHH X, bà Ú thừa nhận Công ty TNHH X có vay số tiền vốn 23.000.000.000đ của ngân hàng chưa trả. Nay bà Nguyễn Thị Ú đồng ý trả số tiền vốn gốc 23.000.000.000₫ (hai mươi ba
3
tỷ đồng) cho ngân hàng, đối với tiền lãi bà Ú đề nghị ngân hàng hỗ trợ tiền lãi phạt phát sinh do kinh doanh thua lỗ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Nguyệt Tuyết N trình bày:
Công ty TNHH X (Trước đây do bà N làm giám đốc), nay thay đổi để cho mẹ bà N (bà Nguyễn Thị Ú) làm giám đốc. Nay Ngân hàng TMCP P yêu cầu Công ty TNHH X trả số tiền nợ vay thì bà N đồng ý trả số tiền vốn gốc 23.000.000.000₫ (hai mươi ba tỷ đồng) cho ngân hàng, đối với tiền lãi bà N đề nghị ngân hàng hỗ trợ tiền lãi phát sinh vì kinh doanh thua lỗ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đối với nguyên đơn có đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các bên phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các pháp nhân thương mại, đều vì mục đích lợi nhuận. Do đó, xác định là loại án tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã vắng mặt. Đại diện ngân hàng có mặt, đồng ý và yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ kiện. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy rằng:
[2.1] Ngày 14/7/2020 Công ty TNHH X do bà Nguyễn Nguyệt T1 N làm giám đốc đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần P hợp đồng tín dụng hạn mức số ST20015388/2020/CAG/HĐTDHM với hạn mức cho vay ngắn hạn là 30.000.000.000₫ (Ba mươi tỷ đồng). Thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất trong hạn cố định 8,8%/năm trong ba tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Theo thỏa thuận trả lãi theo định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 25 tây của tháng theo dư nợ thực tế (kỳ trả lãi đầu tiên là ngày 25/7/2020), thời hạn trả nợ gốc cuối kỳ vào ngày 17/10/2020. Sau khi ký hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay 23.000.000.000₫ (Hai mươi ba tỷ đồng) cho Công ty X nhận theo khế ước nhận
4
nợ số ST20015388/2020/CAG/KUNN ngày 17/7/2020. Tất cả các nội dung thỏa thuận, cũng như các tình tiết trên được các đương sự cùng thừa nhận, nên không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng hợp đồng tín dụng giữa các bên được lập thành văn bản, mục đích và nội dung các thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, hợp đồng tín dụng phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm ký kết. Từ đó có cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần P có cho Công ty TNHH X vay số tiền vốn 23.000.000.000đ là đúng như ngân hàng đã khởi kiện.
Sau khi vay 23.000.000.000₫, Công ty X có trả lãi cho ngân hàng nhưng không đầy đủ. Theo bảng kê đóng lãi của ngân hàng, tổng số tiền lãi đã đóng là 394.268.789đ. Đối với tiền vốn gốc 23.000.000.000đ ngày đến hạn trả là ngày 17/10/2020 (3 tháng sau khi vay) nhưng Công ty X không trả cho ngân hàng. Như vậy, Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng, tính đến ngày 13/5/2024 nghĩa vụ của Công ty X là 34.004.614.645đ (Trong đó vốn 23.000.000.000đ và lãi 11.004.614.645đ).
[2.2] Xét về lãi suất cho vay Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo thỏa thuận hợp đồng các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay, nợ quá hạn. Cụ thể: lãi suất trong hạn cố định 8,8%/năm trong ba tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Sự thỏa thuận giữa các bên về lãi suất là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên có giá trị thực hiện, phù hợp với Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Ú là đại diện Công ty X đồng ý trả Ngân hàng số tiền vốn vay và xin giảm lãi do kinh doanh thua lỗ, tuy nhiên xét đề nghị xin giảm lãi của bà Ú không có căn cứ và đề nghị này ngân hàng không đồng ý nên không chấp nhận đề nghị giảm lãi của Công ty X.
[2.3] Như vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần P yêu cầu Công ty TNHH X trả số tiền vay 34.004.614.645đ (Trong đó vốn 23.000.000.000₫ và lãi 11.004.614.645đ tính đến ngày 13/5/2024) và tiếp tục trả lãi trên dư nợ gốc kể từ ngày 14/5/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng ngày 14/7/2020 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thấy rằng:
[3.1] Để đảm bảo cho khoản vay, bà Nguyễn Thị Ú đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất cho ngân hàng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST20015388A/2020/CAG/HĐTC ngày 16/7/2020 để thế chấp các tài do bà Ú đứng tên để đảm bảo gồm:
- - Tài sản 1: QSDĐ thửa 431, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 824,3m² (ONT) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
- - Tài sản 2: QSDĐ thửa 432, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 786m² (ONT) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
5
- - Tài sản 3: QSDĐ thửa 416, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 300m² (ONT) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ. Tài sản gắn liền với 3 thửa đất 431, 432, 416 gồm: Nhà vệ sinh; Khu nhà văn phòng nhân viên và ăn uống (trệt); Mái che trụ bơm; Nhà ở văn phòng giao dịch (trệt).
- - Tài sản 4: QSDĐ thửa 417, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 2506,7m² (L) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
- - Tài sản 5: QSDĐ thửa 122, tờ bản đồ 27, diện tích cấp 2063,7m² (L) do bà Nguyễn Thị Ú đứng tên QSDĐ, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
- Tài sản gắn liền với 2 thửa đất 417, 122 gồm: Sân đường bê tông; Tường rào.
Qua xem xét, thẩm định thấy rằng toàn bộ tài sản trên đất hiện trạng là Công ty TNHH MTV X, địa chỉ: QL80, ấp P, xã T, Tp . do bà Nguyễn Thị Ú là Chủ tịch kiêm Giám đốc công ty. Quá trình tham gia tố tụng các tình tiết này được các bên đương sự thừa nhận nên không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS.
[3.2] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định tại Điều 317, 318, 319 Bộ luật dân sự 2015, được lập thành văn bản có công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý. Do đó, hợp đồng thế chấp QSDĐ có hiệu lực pháp luật nên tài sản thế chấp được đảm bảo thi hành cho số nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ngoài ra, ngày 16/7/2020 và ngày 20/7/2020 bà Ú cùng Công ty TNHH MTV X đã cam kết bằng văn bản giao toàn bộ tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của bà Ú nêu trên thế chấp cho ngân hàng để bảo đảm cho các khoản vay của bà Ú và/hoặc Công ty X tại ngân hàng O.
[3.3] Như vậy, trường hợp Công ty TNHH X không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi, xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số ST20015388A/2020/CAG/HĐTC ngày 16/7/2020; văn bản cam kết giữa Công ty TNHH MTV X với Ngân hàng ngày 16/7/2020 và văn bản cam kết giữa bà Nguyễn Thị Ú với Ngân hàng ngày 20/7/2020 để thu hồi nợ.
[4] Đối với bà Nguyễn Nguyệt Tuyết N, qua thu thập chứng cứ xác định trước đây bà N làm giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn X, là người ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng. Đến ngày 06/5/2022 thay đổi cho bà Nguyễn Thị Ú là người đại diện hợp pháp của công ty cho đến nay. Nay ngân hàng không có yêu cầu gì đối với bà N nên không xem xét giải quyết.
[5] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Qua đó, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
6
[7] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch và chi phí xem xét thẩm định theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 317, 318, 320, 322, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P.
- Buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn X trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền vốn 23.000.000.000đ và lãi 11.004.614.645₫ (lãi tính đến ngày 13/5/2024), tổng cộng chung vốn, lãi 34.004.614.645₫ (Ba mươi bốn tỷ lẻ bốn triệu sáu trăm mười bốn ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng).
Số tiền vốn vay được tiếp tục tính lãi từ ngày 14/5/2024 theo lãi suất tại Hợp đồng tín dụng ngày 14/7/2020 cho đến khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn X trả xong nợ cho ngân hàng.
Ngân hàng thương mại cổ phần P có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp ngày 16/7/2020; văn bản cam kết giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên X với Ngân hàng ngày 16/7/2020 và văn bản cam kết giữa bà Nguyễn Thị Ú với Ngân hàng ngày 20/7/2020 để thu hồi nợ để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X phải hoàn trả số tiền 200.000đ cho Ngân hàng thương mại cổ phần P.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X nộp 142.004.614đ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 70.246.000đ theo biên lai số 0003846 ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
7
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa |
|
Phan Văn Thiện Trần Hồng Vân |
Trần Minh Trí |
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Minh Trí |
9
Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bên a yêu cầu bên b thanh toán hợp đồng tín dụng
