|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/DS-KDTM Ngày: 19/9/2024. V/v: "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hường.
- Bà Mai Thị Huyền Trang.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài–Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số số 05/2024/TLST-KDTM ngày 17/6/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-KDTM ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/QÐST-KDTM ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C1
Địa chỉ: Số A T, Quận H, TP Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B–Chủ tịch Hội đồng quản trị của Ngân hàng TMCP C1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Châu Vũ H–Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C1-Chi nhánh tỉnh N. Ông Châu Vũ Hoàng ủy q lại cho bà Nguyễn Thanh T-Trưởng phòng tổ chức tổng hợp và bà Từ Vũ Nữ Lệ C–cán bộ quan hệ khách hàng của Ngân hàng TMCP C1-chi nhánh tỉnh N tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền số 531/UQ-CNNTH-TH ngày 23/7/2024). (bà T và bà C có mặt).
-Bị đơn: Bà Trượng Thị L –Chủ hộ kinh doanh Trượng Thị L (vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP C1 bà Nguyễn Thanh T và bà Từ Vũ N Lệ Chi trình bày:
Bà Trượng Thị L–là chủ hộ kinh doanh (theo giấy phép kinh doanh số: 43E8002141 do UBND huyện N cấp ngày 26/6/2020) có ký với Ngân hàng TMCP C1–chi nhánh tỉnh N, hợp đồng vay số 330110/2023-HĐCVHM/NHCT610 ngày 06/10/2023 với số tiền 600.000.000đồng, thời gian vay 12 tháng, lãi suất tại thời điểm cho vay 9,5%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh một tháng một lần. Thời gian cho vay tối đa trên mỗi giấy nhận nợ: 11 tháng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa, cà phê, bi da và các loại nước giải khát. Kỳ hạn trả nợ: Lãi định kỳ vào ngày 28 hàng tháng. Gốc: theo từng giấy nhận nợ cụ thể nhưng tối đa không quá 11 tháng. Trong quá trình vay vốn bà L đã trả tiền lãi cho Ngân hàng được 41.383.562 đồng (bao gồm lãi đến hạn và lãi chậm trả lãi). Bà L chỉ trả tiền lãi, chưa trả tiền gốc. Do bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ vay và chậm thanh toán nợ lãi đến hạn nên Ngân hàng chuyển toàn bộ khoản nợ sang nợ quá hạn kể từ ngày 09/3/2024 (ngày trả lãi ngày 28 hàng tháng, kỳ trả lãi gần nhất ngày 28/5/2024).
Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà L phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt tính đến ngày 19/9/2024 là 619.836.253 đồng. Trong đó: +Nợ gốc 600.000.000 đồng (đến hạn ngày 06/9/2024) +Lãi phạt chậm trả nợ gốc quá hạn 1.015.068 đồng +Nợ lãi trong hạn: 18.619.094 đồng +Lãi phạt chậm trả lãi 202.091 đồng. Bà L phải trả lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Để bảo đảm khoản vay trên, bà Trượng Thị L đã ký với Ngân hàng TMCP C1-Chi nhánh tỉnh N, Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 330176/2021/HĐBĐ/NHCT610 ngày 25/12/2021, trong đó bà L thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 19b, diện tích đất 497m² (trong đó đất ở tại đô thị 250m²; đất nông nghiệp khác 247m²), đất tọa lạc tại Khu phố B, thị trấn P, huyện N, do bà L đứng tên trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BR: 951011, số vào sổ cấp GCN: CH 03534 do UBND huyện N cấp ngày 25/02/2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Trượng Thị L có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà (Lời) là chủ hộ kinh doanh có ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng TMCP C1-Chi nhánh N, để vay vốn 600.000.000đồng, thời gian vay 12 tháng, lãi suất tại thời điểm cho vay 9,5%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh một tháng một lần. Mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa, cà phê, bi da và các loại nước giải khát. Khi vay bà thế chấp Quyền sử dụng thửa đất số 25, tờ bản đồ số 19b, diện tích đất 497m² tại Khu phố B, thị trấn P, huyện N. Trong quá trình vay vốn, bà vay và có đáo hạn nhiều lần. Thời điểm vay gần nhất là ngày 06/10/2023 và bà chỉ trả lãi theo thỏa thuận cho Ngân hàng, chưa trả nợ gốc. Bà đồng ý với các khoản nợ của ngân hàng. Tuy nhiên do khó khăn về kinh tế nên bà xin được trả dần cho đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
-Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (HĐXX) từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn Trượng Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Trượng Thị L phải trả cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền còn nợ tính đến ngày 19/9/2024 là 619.836.253 đồng. Trong đó: nợ gốc 600.000.000 đồng +lãi phạt chậm trả gốc 1.015.068 đồng +nợ lãi trong hạn: 18.619.094 đồng +lãi phạt chậm trả lãi 202.091 đồng. Bà L còn phải thanh toán lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Căn cứ kết quả xét hỏi công khai và nghe ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa.
Sau khi Hội đồng xét xử nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa HĐXX nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện bị đơn bà Trượng Thị L-là người có nơi cư trú tại khu phố B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng với bà L, hai bên đều có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận. Do đó, khi phát sinh tranh chấp là tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Theo quy định tại Điều 26; Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điều 39 của BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xác định quan hệ pháp luật của vụ án cần giải quyết là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[1.1] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn Trượng Thị L vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng họ vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ bị đơn đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 BLTTDS, cùng với tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng TMCP C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trượng Thị L trả nợ vay cho Ngân hàng.
HĐXX nhận định: Từ những tài liệu chứng cứ mà Ngân hàng đưa ra, bà Trượng Thị L có ký với Ngân hàng TMCP C1 hợp đồng số 330110/2023-HĐCVHM/NHCT610 ngày 06/10/2023. Tính đến ngày 19/09/2024, bà L còn nợ Ngân hàng là 619.836.253 đồng, trong đó:
+Nợ gốc 600.000.000 đồng (đến hạn ngày 06/9/2024)
+Lãi phạt chậm trả gốc 1.015.068 đồng (cách tính: nợ gốc 600.000.000 đồng x lãi suất cho vay 9,5%/năm x 50% x 13ngày/365ngày).
+Nợ lãi trong hạn: 18.619.094 đồng.
+Lãi phạt chậm trả lãi 202.091 đồng (cách tính: nợ lãi trong hạn x 10%/năm x số ngày quá hạn/365ngày).
Do bà L vi phạm các điều khoản tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Nay Ngân hàng yêu cầu bà L phải trả số nợ trên cho Ngân hàng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 20/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại Hợp đồng.
[2.1] Mức lãi suất: Trong hợp đồng tín dụng cho vay số 330110/2023-HĐCVHM/NHCT610 ngày 06/10/2023 mà bà L ký kết với Ngân hàng TMCP C1-chi nhánh tỉnh N có thỏa thuận mức lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 9,5%/năm, lãi suất cho vay được điều chỉnh một tháng một lần, được xác định và điều chỉnh theo các quy định, công thức nêu tại Điều 3 của điều kiện và điều khoản chung của Ngân hàng. Ngoài việc yêu cầu bị đơn phải trả nợ tính đến ngày 19/9/2024 thì Ngân hàng còn yêu cầu bà L phải trả lãi phát sinh từ ngày 20/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng.
Cách tính lãi suất của Ngân hàng là đúng như thỏa thuận giữa hai bên đã ký trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024: “tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật về các tổ chức tíndụng” và phù hợp với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”.
Xét giao dịch giữa Ngân hàng TMCP C1 với bị đơn Trượng Thị L được xác lập tự nguyện, nội dung hợp đồng quy định về mức lãi suất cho vay. Mục đích, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng không vi phạm điều cấm, phù hợp quy định Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 .
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, Ngân hàng có quyền khởi kiện và áp dụng biện pháp cần thiết để đảm bảo việc thu hồi nợ. Đối chiếu tài liệu, chứng cứ mà ngân hàng cung cấp cho Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà L vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện mà Ngân hàng đưa ra.
[2.2] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của BLDS 2015 và Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015, Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, HĐXX xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa buộc bà Trượng Thị L phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP C1 đến ngày 19/09/2024, là 619.836.253 đồng. Trong đó: Nợ gốc 600.000.000 đồng +Lãi phạt nợ gốc quá hạn 1.015.068 đồng +Nợ lãi trong hạn: 18.619.094 đồng +Lãi phạt nợ lãi trong hạn 202.091 đồng.
[3] Về hợp đồng thế chấp số 330176/2021/HĐBĐ/NHCT610 ngày 25/12/2021 được ký kết giữa bà Trượng Thị L với Ngân hàng TMCP C1- chi nhánh tỉnh N.
Qua xem xét thẩm định tài sản ngày 20/8/2024, xác định tài sản thế chấp là thửa đất số 25, tờ bản đồ số 19b, diện tích 497m² (trong đó đất ở tại đô thị 250m²; đất nông nghiệp khác 247m²), tọa lạc tại Khu phố B, thị trấn P, huyện N, do bà Trượng Thị L đứng tên trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số BR: 951011, số vào sổ cấp GCN: CH 03534 do UBND huyện N cấp ngày 25/02/2014. Tài sản gắn liền trên thửa đất số 25 gồm 02 căn nhà và công trình phụ, hiện bà L đang quản lý. So với thời điểm thế chấp năm 2021 thì thửa đất và tài sản trên đất không có gì thay đổi, phù hợp với hợp đồng thế chấp.
[4] Án phí và chi phí tố tụng:
[4.1] Chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định tài sản thế chấp là 2.000.000đồng bà L phải chịu. Do Ngân hàng TMCP C1 đã đóng tạm ứng chi phí 2.000.000đồng, nên bà L có trách nhiệm phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C1 chi phí thẩm định tài sản là 2.000.000 đồng.
[4.2] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về kinh doanh thương mại) theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là 28.793.000đồng (cách tính: 20.000.000đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000đồng, làm tròn số)
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 26; Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 165; Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 280, 295, 299; Điều 317, 318, 319, 357; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C1 đối với bị đơn bà Trượng Thị L.
1. Buộc bà Trượng Thị L-chủ hộ kinh doanh Trượng Thị L, phải trả nợ vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần C1 theo khoản vay của hợp đồng tín dụng số 330110/2023-HĐCVHM/NHCT610 ngày 06/10/2023 với số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng + lãi phạt nợ gốc quá hạn: 1.015.068 đồng + nợ lãi trong hạn: 18.619.094 đồng + lãi phạt nợ lãi trong hạn: 202.091 đồng (tính đến ngày 19/9/2024). Tổng cộng là 619.836.253 đồng (sáu trăm mười chín triệu, tám trăm ba mươi sáu ngàn, hai trăm năm mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trượng Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi và lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng 330110/2023-HĐCVHM/NHCT610 ngày 06/10/2023 được ký kết giữa bà Trượng Thị L với Ngân hàng TMCP C1 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 330176/2021/HĐBĐ/NHCT610 ngày 25/12/2021 được ký kết giữa bà Trượng Thị L với Ngân hàng TMCP C1- chi nhánh tỉnh N, để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.
2.Về chi phí tố tụng: Bà Trượng Thị L phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C1 chi phí thẩm định tài sản là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
3.Về án phí: Bà Trượng Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.793.000 đồng (hai mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi ba ngàn đồng)
Ngân hàng TMCP C1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C1 số tiền 14.097.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004415 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4.Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP C1 có mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19/9/2024); bị đơn vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 01/2024/DS-KDTM ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2024/DS-KDTM
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
