Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/KDTM-PT

Ngày: 20/11/2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán ô tô”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

- Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLPT-KDTM ngày 07/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán ô tô”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 04/2024/KDTM-ST ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2024/QĐ-PT ngày 22/10/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH T2 (gọi tắt là Công ty T2); Địa chỉ: Số C Chợ T, Khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1973 – Chức vụ: Giám đốc (có mặt).

Bị đơn: Công ty TNHH V (gọi tắt là: Công ty V); Địa chỉ: thôn P (NR T), xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn H, sinh năm 1970 – Chức vụ: Giám đốc (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Trịnh Quốc L - Luật sư, Công ty L2 và Cộng sự, Đoàn luật sư thành phố H ( có mặt) và bà Thái Phương Q; Bà Phạm Thị L1 - Luật sư, Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H (đều có mặt)

Người kháng cáo: Công ty TNHH V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn Công ty TNHH T2 do ông Nguyễn Văn D trình bày: Năm 2014, Công ty T2 và Công ty V cùng nhau mua mới 04 xe ô tô tải Cabin Chassi 7,4 tấn, nhãn hiệu Trường Giang theo hình thức mua trả góp (trong đó Công ty T2 mua 03 xe, Công ty V mua 01 xe). Tuy nhiên, do lúc đó Công ty V không đủ điều kiện để vay vốn Ngân hàng, nên hai bên thống nhất Công ty T2 sẽ đứng tên chủ sở hữu của cả 04 xe, và sau đó đứng ra làm thủ tục vay vốn của Ngân hàng để trả tiền mua cả 04 xe. Công ty V phải trả nợ gốc, lãi cho 01 xe của Công ty V, còn Công ty T2 trả nợ gốc, lãi cho 03 xe của Công ty T2. Ngày 05/12/2014 Công ty T2 đã ký Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số: 47/2014/HĐTDTDH-PN/SHB.111000 để vay của Ngân hàng TMCP S số tiền 1.500.000.000 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay Công ty T2 thế chấp 04 xe ô tô nêu trên, cùng với 01 thửa đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị M cho Ngân hàng. Ngày 09/12/2014 Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 vay số tiền 1.500.000.000 đồng và được chuyển hết vào tài khoản của Công ty B để trả tiền mua xe. Theo thỏa thuận với Ngân hàng thì Công ty T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền nợ gốc và lãi vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 25/12/2014.

Để làm tin thì Công ty V và Công ty T2 đã ký “Hợp đồng hợp tác kinh doanh” với nội dung kể từ ngày 25/11/2014 Công ty V góp 01 xe ô tô BKS 99C-051.03 vào tài sản của Công ty T2. Hợp đồng này được hai bên lập sau khi đã làm xong thủ tục vay vốn của Ngân hàng và cả 04 xe ô tô đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Thời điểm này người đại diện theo pháp luật của Công ty T2 là bà Phạm Thị T, đến năm 2015 thì ông D thay bà T làm người đại diện theo pháp luật của Công ty T2. Khi đó, ông Trần Văn H là giám đốc Công ty V yêu cầu ông D ký lại “Hợp đồng mua bán xe ô tô, kèm biên bản bàn giao xe” nhưng vẫn đề ngày 20/11/2014 với nội dung Công ty T2 bán cho Công ty V chiếc xe ô tô BKS 99C-051.03 với giá 702.851.000 đồng. Công ty V thanh toán trước 400.000.000 đồng, còn lại Công ty V phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền mà Công ty T2 vay trả góp chiếc xe này. Thực tế đây là chiếc xe mà Công ty V đã bỏ tiền ra mua, số tiền 400.000.000 đồng là tiền Công ty V đã trả cho Công ty B thông qua tài khoản của Công ty T2. Chiếc xe ô tô BKS 99C-051.03 vẫn do Công ty V sử dụng từ khi mua đến nay. Tuy nhiên, sau đó Công ty V đã không trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng như đã cam kết, nên từ ngày 25/12/2014 đến ngày 05/5/2015 Công ty T2 đã phải trả cả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đối với 04 xe ô tô, tổng cộng là 247.150.000 đồng (tương đương 61.787.500 đồng cho mỗi xe). Ngày 22/6/2015 và ngày 17/7/2015 Công ty T2 đã nộp tiền vào để tất toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi của 02 xe ô tô mà Công ty T2 mua trả góp. Còn lại 01 xe ô tô BKS 99C-051.03 của Công ty V và 01 xe ô tô BKS 99C-050.54 của Công ty T2 vẫn chưa tất toán được.

Ngày 10/7/2015 Công ty V đề nghị mua lại xe ô tô BKS 99C-050.54 của Công ty T2 (là chiếc xe ô tô còn lại vẫn đang thế chấp cho Ngân hàng) với giá 580.000.000 đồng. Hai bên có làm “Hợp đồng bán xe kiêm biên bản bàn giao xe” và “Giấy biên nhận tiền và chuyển nhượng ô tô”, theo đó Công ty V đã trả cho Công ty T2 A số tiền 300.000.000 đồng, Công ty V cam kết sẽ có trách nhiệm trả toàn bộ tiền nợ gốc và lãi còn lại cho Ngân hàng đối với chiếc xe này. Nhưng hai bên không thông báo gì với Ngân hàng về việc chuyển giao nghĩa vụ trả nợ. Công ty T2 đã giao xe ô tô BKS 99C-05054 cho Công ty V sử dụng từ ngày 10/7/2015 đến nay. Đến ngày 10/8/2015 Công ty V có trả thêm cho Công ty T2 số tiền 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó Công ty V vẫn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đối với cả 02 chiếc xe ô tô, nên từ ngày 1/9/2015 đến ngày 17/6/2016 Công ty T2 đã phải đứng ra để trả nợ cho Ngân hàng thay cho Công ty V với tổng số tiền là 54.890.000 đồng. Còn Công ty V chỉ trả cho Ngân hàng được tổng số tiền là 64.850.000 đồng (theo bảng sao kê thể hiện “Nguyễn Thị T1 nộp tiền”). Từ cuối năm 2016 do Công ty V không trả thêm bất cứ khoản tiền cho Ngân hàng nên khoản vay này bị chuyển thành nợ xấu. Đến tháng 6/2024 Công ty T2 đã phải làm việc với Ngân hàng S1 để chốt lại tổng số nợ gốc và lãi còn lại phải thanh toán là 01 tỷ đồng, Công ty T2 đã nộp 01 tỷ đồng để trả cho Ngân hàng S1 thay cho Công ty V. Đến nay 02 chiếc xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 đã được Ngân hàng làm thủ tục giải chấp.

Ngoài số tiền 40.000.000 đồng ông D nhận của Công ty V ngày 10/8/2015 thì ông không nhận bất cứ khoản tiền nào khác của Công ty V để trả nợ cho Ngân hàng. Khi ông H đưa tiền thì ông D không nhận và bảo ông H tự mang đến nộp cho Ngân hàng. Phía Công ty V chưa bao giờ đề nghị Công ty T2 phối hợp để làm thủ tục tất toán 02 chiếc xe. Việc ông H cho rằng ông D không nộp 500.000.000 đồng vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng S1 theo thỏa thuận ngày 29/9/2021 là không đúng. Tháng 10/2021 sau khi hai bên thỏa thuận thì ông D đã mở tài khoản tại Ngân hàng S1 đứng tên Nguyễn Văn Q1 và nộp vào tài khoản đó 500.000.000 đồng để phong tỏa, nhưng phía ông H không nộp tiền vào theo như cam kết. Ông H cho rằng từ cuối năm 2016 do Ngân hàng S1 không cấp giấy đi đường cho xe ô tô BKS 99C-051.03 và xe ô tô BKS 99C-05054, nên Công ty V không đưa xe vào hoạt động được trong nhiều năm là không đúng. Công ty V đã quản lý, sử dụng 02 chiếc xe ô tô trên từ khi mua đến nay đã 10 năm. Ngày 04/01/2018 Công ty V sử dụng chiếc xe ô tô BKS 99C-050.54 bị tai nạn tại đường M - địa phận tỉnh Nghệ An. Khi đó Công ty V có làm đơn đề nghị Công ty B1 làm thủ tục thanh toán bảo hiểm cho chiếc xe này. Công ty T2 cũng đã gửi văn bản để Công ty B1 giải quyết cho Công ty V.

Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi mà Công ty T2 đã phải trả cho Ngân hàng thay cho Công ty V là 61.787.500 đồng + 54.890.000 đồng + 1.000.000.000 đồng = 1.116.677.500 đồng. Trong đó, trừ đi số tiền 40.000.000 đồng Công ty V đã trả ngày 10/8/2015 thì đến nay Công ty T2 yêu cầu Công ty V phải trả lại tổng số tiền là 1.076.677.500 đồng. Hiện nay Công ty T2 vẫn đang giữ giấy tờ của xe ô tô BKS 99C-051.03 và xe ô tô BKS 99C-05054. Khi nào Công ty V trả hết tiền còn nợ thì Công ty T2 sẽ có trách nhiệm làm thủ tục sang tên 02 chiếc xe trên cho Công ty V.

Bị đơn do Công ty TNHH V do ông Trần Văn H trình bày: Năm 2014, Công ty T2 có mua 04 xe ô tô tải Cabin Chassi 7,4 tấn, nhãn hiệu Trường Giang với giá là 702.851.000 đồng mỗi xe. Tuy nhiên, do không có đủ tiền để trả nên Công ty T2 đã bán lại cho Công ty V 01 xe ô tô BKS 99C-051.03. Thời điểm đó cả 04 chiếc xe này đều đang được Công ty T2 A thế chấp cho Ngân hàng S1 để vay tiền. Đối với Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Công ty V với Công ty T2 về việc Công ty V góp xe ô tô BKS 99C-051.03 vào Công ty T2 để sử dụng vào mục đích kinh doanh thì ông H khẳng định chữ ký của ông H và dấu của Công ty V là đúng, nhưng ông H không nhớ gì về nội dung thỏa thuận này. Đến khoảng năm 2015 khi ông D thay bà Phạm Thị T làm Giám đốc Công ty T2, thì ông H có yêu cầu ông D ký lại Hợp đồng mua bán xe ô tô kiêm biên bản bàn giao xe đối với xe ô tô BKS 99C-051.03, nhưng vẫn đề ngày ký hợp đồng là 20/11/2014. Theo thỏa thuận giá trị chiếc xe là 702.851.000 đồng, trong đó Công ty V đã trả cho Công ty T2 số tiền 400.000.000 đồng (có phiếu thu), còn lại số tiền 302.851.000 đồng thì Công ty V có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền do Công ty T2 trả góp đối với xe ô tô BKS 99C-051.03. Sau đó, ông H đã đưa tiếp cho ông Nguyễn Văn D 50.000.000 đồng tiền mặt, và các tháng tiếp theo ông H đều mang tiền đưa cho ông D để trả tiền gốc, lãi cho Ngân hàng (nhưng không có giấy tờ giao nhận tiền). Công ty V đã sử dụng chiếc xe này từ khi mua đến nay.

Ngày 10/7/2015 Công ty V có mua lại của Công ty T2 A xe ô tô tải BKS 99C-050.54 (khi đó chiếc xe này vẫn đang thế chấp cho Ngân hàng) với giá 580.000.000 đồng. Hai bên có làm “Hợp đồng bán xe kiêm biên bản bàn giao xe” và “Giấy biên nhận tiền và chuyển nhượng ô tô”, theo đó Công ty V đã trả 300.000.000 đồng, còn lại 280.000.000 đồng chưa trả (trong đó số tiền nợ gốc còn phải trả Ngân hàng là 260.000.000 đồng). Công ty V cam kết sẽ có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đối với chiếc xe này thay cho Công ty T2. Sau đó, đến ngày 10/8/2015 Công ty V đã trả cho Công ty T2 số tiền 40.000.000 đồng (có giấy biên nhận). Công ty T2 đã giao xe ô tô BKS 99C-05054 cho Công ty V sử dụng từ ngày 10/7/2015, đến nay chiếc xe này vẫn do Công ty V quản lý.

Sau đó, từ ngày 3/8/2015 đến ngày 12/12/2016 Công ty V đã nhiều lần nộp tiền trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng S1 với tổng số tiền là 64.850.000 đồng (đứng tên người nộp là Nguyễn Thị T1). Sau ngày 12/12/2016 do Ngân hàng S1 không cấp giấy đi đường cho 02 chiếc xe ô tô, nên Công ty V không trả tiền cho Ngân hàng nữa. Đồng thời, Công ty V có đề nghị Ngân hàng cho Công ty được nộp tiền để tất toán 02 chiếc xe, nhưng Ngân hàng không đồng ý vì gói tín dụng của Công ty T2 còn có thế chấp 01 thửa đất nữa. Ông H có bảo ông D phối hợp để làm thủ tục tất toán xe, nhưng ông D khất lần không làm. Tuy nhiên, Công ty V cũng chưa bao giờ trao đổi với Công ty T2 về việc trả lại xe và chấm dứt hợp đồng mua bán xe. Ngày 29/9/2021 tại TAND huyện Quế Võ, ông H và ông D có thống nhất thỏa thuận mỗi bên sẽ nộp vào Ngân hàng S1 số tiền 500.000.000 đồng để giải chấp 02 chiếc xe ô tô, nhưng sau đó ông D không thực hiện nên Công ty V cũng không nộp tiền vào Ngân hàng.

Nay Công ty T2 yêu cầu Công ty V phải trả lại tổng số tiền là 1.076.677.500 đồng thì phía bị đơn không đồng ý, vì sau khi mua xe Công ty T2 vẫn chưa làm thủ tục để sang tên cho Công ty V, nên Công ty K đưa xe vào hoạt động nhiều năm nay, và đã xuống cấp nghiêm trọng không còn sử dụng được nữa.

Với nội dung nêu trên, Bản án sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 24/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quế Võ Điều 410, 430, 431, 433, 440 Bộ luật Dân sự; Điều 30, 35, 39, 147, 186, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q2, xử:

Công ty TNHH V có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH T2 A tổng số tiền là 1.076.677.500 đồng.

Sau khi Công ty TNHH V thanh toán xong tiền thì Công ty TNHH T2 A có trách nhiệm làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/8/2024, bị đơn Công ty TNHH V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T2.

Tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Nguyên đơn Công ty TNHH T2 A đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuy nhiên trong phần tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn Công ty TNHH V, Công ty T2 tự nguyên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cụ thể: Công ty TNHH V phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T2 A số tiền 660.000.000 đồng

Công ty TNHH T2 phải có trách nhiệm làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V.

Trong trường hợp Công ty TNHH V không thực hiện theo thỏa thuận thì Công ty TNHH V phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V theo quy định của pháp luật.

Án phí: Công ty TNHH V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến hết phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 2 Điều 308 BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH V nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xem xét đơn kháng cáo của Công ty TNHH V thì thấy:

[2.1] Xem xét hợp đồng mua bán hai chiếc xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54. Nguồn gốc hai chiếc xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 là Công ty T2 A mua mới của Công ty B là 04 xe ô tô tải Cabin Chassi 7,4 tấn, nhãn hiệu Trường Giang theo hình thức mua trả góp năm 2014. Ngày 05/12/2014, Công ty T2 đã ký Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số: 47/2014/HĐTDTDH-PN/SHB.111000 để vay của Ngân hàng TMCP S số tiền 1.500.000.000đ. Để bảo đảm cho khoản vay này Công ty T2 đã thế chấp 04 chiếc xe ô tô nêu trên, cùng với 01 thửa đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị M cho Ngân hàng. Ngày 09/12/2014 Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T2 vay số tiền 1.500.000.000đ và được chuyển hết vào tài khoản của Công ty B để trả tiền mua xe. Theo thỏa thuận với Ngân hàng thì Công ty T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền nợ gốc và lãi vào ngày 25 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 25/12/2014.

Ngày 20/11/2014, Công ty T2 và Công ty V có ký hợp đồng thỏa thuận mua bán xe ô tô kèm biên bản bàn giao xe. Nội dung: Công ty T2 bán cho Công ty V xe ô tô BKS 99C-051.023 với giá trị là 702.851.000 đồng. Công ty V thanh toán số tiền 400.000.000 đồng, còn lại số tiền 302.851.000 đồng Công ty V và công ty T2 có trách nhiệm thanh toán tiền lãi và gốc cho Ngân hàng để lấy giấy tờ xe cho bên B.

Ngày 10/7/2015, Công ty V tiếp tục mua của Công ty T2 A xe ô tô BKS 99C-050.54 với giá 580.000.000 đồng. Công ty V đã trả 300.000.000 đồng cho Công ty T2, số tiền còn lại là 280.000.000 đồng. Việc thỏa thuận và ký kết hợp đồng mua bán ô tô giữa Công ty T2 và Công ty V là có thật hoàn, được các bên thừa nhận và hoàn toàn tự nguyện. Các bên tham gia ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung và hình thức hợp đồng đã tuân thủ đúng và đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 117 của BLDS năm 2015 nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.

Theo quy định tại Mục 3 Hợp đồng mua bán xe ô tô, kèm biên bản giao xe ngày 20/11/2014 thì có nội dung “Kể từ khi Bên A bàn giao chiếc xe 99C05103 cho bên B, bên B có trách nhiệm thanh toán với Ngân hàng khoản tiền bên A vay trả góp chiếc xe 99C05103 tại NH SHB” và tại nội dung thỏa thuận tại Giấy biên nhận tiền và chuyển nhượng ô tô (BKS 99C-05054) ngày 10/7/2015 như sau: “Chiếc xe hiện nay Công ty TNHH T2 đang vay trả góp của ngân hàng S1 với số tiền gốc còn phải trả: 260.000.000đ. Công ty TNHH T2 A chuyển nhượng số tiền còn vay cho Công ty TNHH V. Công ty TNHH V có trách nhiệm trả góp số gốc và lãi cho Ngân hàng S1 mà công ty đã vay. Số tiền còn lại: Công ty TNHH V sẽ thanh toán trực tiếp với Ngân hàng S1 kể từ tháng 08/2015”. Theo thỏa thuận của hai bên, Công ty V biết rõ 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 đang thế chấp tại Ngân hàng nhưng đồng ý mua và thỏa thuận trả nợ gốc và lãi Ngân hàng cho Công ty T2. Tuy nhiên, ngay sau khi ký kết hợp đồng Công ty T2 đã bàn giao xe cho Công ty V theo thỏa thuận tại Hợp đồng, nhưng Công ty V không thanh toán nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận của hợp đồng nên Công ty T2 có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả nợ là đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Xét quá trình thực hiện hợp đồng: Theo văn bản số 947/CV-SHB Bắc Ninh ngày 05/8/2024 Ngân hàng TMCP S chi nhánh B2 cho biết: “Ngân hàng có cho Công ty T2 vay số tiền 1,5 tỷ đồng mục đích để thanh toán tiền mua 04 xe ô tô tải, và đã được chuyển toàn bộ cho Công ty B, ngoài ra không sử dụng vào mục đích nào khác. Trong quá trình vay tiền, Công ty T2 được nộp tiền để tất toán và làm thủ tục giải chấp riêng lẻ mỗi chiếc xe ô tô thế chấp tại Ngân hàng”.

Theo thỏa thuận tại hợp đồng, thực tế từ ngày 3/8/2015 đến ngày 12/12/2016 Công ty V mới chỉ nộp tiền trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng S1 với tổng số tiền là 64.850.000 đồng, ngoài ra không thực hiện trả nợ vay cho Ngân hàng. Do đó trong các ngày 22/6 và 17/7/2015 Công ty T2 đã nộp tiền và được Ngân hàng S1 làm thủ tục giải chấp đối với 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 của Công ty T2.

Bị đơn trình bày cho rằng sau khi mua xe đã nhiều lần đưa tiền cho ông D để trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, nhưng các lần đưa tiền này đều không có giấy tờ gì chứng minh và phía nguyên đơn cũng không thừa nhận nội dung này nên không có căn cứ để xem xét. Ngoài ra, bị đơn trình bày: Cuối năm 2016 Ngân hàng S1 không cấp giấy đi đường cho 02 xe ô tô trên, nên Công ty không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng nữa và cũng không thể đưa xe vào hoạt động từ đó đến nay. Tuy nhiên, theo “Đơn đề nghị giải quyết quyền lợi bảo hiểm” ngày 04/01/2018 của Công ty V thể hiện ngày 01/01/2018 Công ty V đã sử dụng xe ô tô BKS 99C-050.54 và bị tai nạn tại đường M địa phận Nghệ An. Mặt khác, Công ty V cũng chưa bao giờ trao đổi với Công ty T2 về việc trả lại xe và chấm dứt hợp đồng mua bán xe mà vẫn quản lý 02 xe ô tô này từ khi mua đến nay.

Việc Công ty T2 A bán 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 và đã thực hiện bàn giao xe cho Công ty V quản lý từ năm 2015 cho đến nay đã hơn 10 năm nhưng Công ty V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và lãi cho Ngân hàng theo như hợp đồng thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Do Công ty T2 đã phải nộp tiền để tất toán và làm thủ tục giải chấp 02 xe ô tô nêu trên tại Ngân hàng.

Như vậy, cần buộc Công ty V phải thanh toán cho Công ty T2 số tiền nợ gốc, lãi cho 02 xe ô tô trên từ ngày 01/9/2015 đến ngày 28/6/2024 là có căn cứ. Cụ thể: Từ ngày 25/12/2014 đến ngày 05/5/2015 Công ty T2 đã phải trả cả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng đối với 04 xe ô tô tổng cộng là 247.150.000 đồng, số tiền gốc, lãi đã trả cho chiếc xe ô tô BKS 99C-051.03 là: 247.150.000 : 4 = 61.787.500đ. Ngày 22/6 và 17/7/2015 Công ty T2 đã nộp tiền để tất toán 02 chiếc xe ô tô của Công ty T2 A, nên sau thời điểm ngày 17/7/2015 thì chỉ còn phải trả nợ gốc, lãi của 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54. Từ ngày 01/9/2015 đến ngày 28/6/2024 Công ty T2 đã phải trả nợ gốc, lãi cho 02 xe ô tô trên với tổng số tiền là 1.054.890.000 đồng. Do đó, Công ty V phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi cho Công ty T2 là: 61.787.500đ + 1.054.890.000₫ - 40.000.000đ = 1.076.677.500₫ như tòa án cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Công ty TNHH V và Công ty T2 tự nguyên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cụ thể: Công ty TNHH V phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T2 A số tiền 660.000.000 đồng

Công ty TNHH T2 phải có trách nhiệm làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V.

Trong trường hợp Công ty TNHH V không thực hiện theo thỏa thuận thì Công ty TNHH V phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V theo quy định của pháp luật; Công ty TNHH V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, Công ty TNHH V và Công ty T2 thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, do đó cần sửa bản án sơ thẩm xử theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

[3] Về án phí: Công ty TNHH V phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm xử. Công nhận sự thỏa thuận của Công ty TNHH T2 và Công ty TNHH V.

1. Công ty TNHH T2 (gọi tắt là Công ty T2); Địa chỉ: Số C Chợ T, Khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH V (gọi tắt là: Công ty V); Địa chỉ: thôn P (NR T), xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh số tiền 660.000.000 đồng (sáu trăm sáu mươi triệu đồng chẵn).

Công ty TNHH T2 phải có trách nhiệm làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V.

Trong trường hợp Công ty TNHH V không thực hiện theo thỏa thuận thì Công ty TNHH V phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục sang tên 02 xe ô tô BKS 99C-051.03 và BKS 99C-050.54 cho Công ty TNHH V theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Công ty TNHH T2 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả lại Công ty TNHH T2 A 28.394.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002115 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Công ty TNHH V phải chịu 28.800.000 án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 2.000.000đ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ số tiền 2.000.000₫ đã tạm ứng theo Biên lai thu số số 0000645 ngày 27/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/KDTM-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán ô tô

  • Số bản án: 01/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán ô tô
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán ô tô giữa Nguyên đơn: Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Bình Minh A ; Bị đơn: Công ty TNHH vận tải Hậu Ninh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger