Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 01/2024/HSST

Ngày 06 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QN, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Thơi

Ông Cà Văn Pống

Thư ký phiên tòa: Bà Cầm Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện QN, tỉnh Sơn La.

Đại diện VKSND huyện QN tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện QN, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo.

Họ và tên: Hà Văn M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 02 năm 1976 tại xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT: Bản CN 2, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Hà Văn T, sinh năm: 1956 và bà Tòng Thị Y, sinh năm: 1958; Họ tên vợ là Lường Thị N, sinh năm 1976, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1998.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã thi hành xong các quyết định khác của bản án và đã chấp hành án xong hình phạt tù vào ngày 02/02/2018. Tính đến thời điểm phạm tội mới, bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 7 năm 2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn M: Ông Nguyễn Bá Linh – Luật sư, Cộng

2

tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 16/7/2024, Tổ công tác của đội CSHS-KTMT Công an huyện QN đang làm nhiệm vụ đấu tranh phòng chống ma túy tại khu vực bản PU, xã MG, huyện QN đã phát hiện và bắt quả tang đối tượng Hà Văn M sinh ngày 24/02/1976, trú tại: Bản CN 2, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Hà Văn M, M khai nhận đó là gói ma túy.

Ngày 16/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QN tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Hà Văn M, kết quả: Hà Văn M dương tính với chất ma túy, đã niêm phong lại 01 que thử ma túy theo quy định.

Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QN phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện QN tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng đối với chất cục bột màu trắng thu giữ của Hà Văn M. Kết quả: Số chất cục bột màu trắng trong gói nilon màu hồng được tổng khối lượng 0,25 gam (Không phẩy hai mươi lăm gam), trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A1.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QN đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 154/QĐ trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định đối với vật chứng gửi giám định ký hiệu A1 nghi là ma túy thu giữ của Hà Văn M.

Tại Kết luận giám định số: 1479/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là A1 = 0,25 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam; loại Heroine (Heroin). Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra bị can Hà Văn M khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 16/7/2024, Hà Văn M một mình đi bộ từ nhà tại bản Cáp Na 2, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu đến trung tâm xã TH, huyện TU để làm thuê. Khi đến khu vực bản CN 1, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu, Hà Văn M gặp một người đàn ông không quen biết (M không biết tên, địa chỉ cụ thể) đang đi bộ ngược chiều, M hỏi “Mày có không

3

(Ý là hỏi mua ma túy)”, người đàn ông trả lời “Có”, sau đó M đưa 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) cho người đàn ông, người đàn ông nhận lấy tiền đồng thời đưa cho M một gói ma túy được gói bằng nilon màu hồng. Sau khi mua được ma túy, M đã trích lấy một phần nhỏ ma túy sử dụng bằng hình thức hít, phần ma túy còn lại M gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc để sau này sử dụng dần, rồi tiếp tục đi bộ đến trung tâm xã TH thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến huyện QN, tỉnh Sơn La để tìm chỗ làm thuê, khi đi đến khu vực bản PU, xã MG, huyện QN, M xuống xe, tiếp tục đi bộ về hướng trung tâm huyện QN thì bị tổ công tác Công an huyện QN phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ 01 gói ma túy của M.

Bản cáo trạng số: 24/CT-VKS-QN ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện QN truy tố bị cáo Hà Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện QN phát biểu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với Hà Văn M về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự

- Xử phạt bị cáo Hà Văn M từ 14 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 16/7/2024).

Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên tiêu hủy:

- Một phong bì công văn của Công an huyện QN được niêm phong, dán kín. Mặt trước phong bì ghi Vật chứng lưu kho vụ Hà Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng + 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở". Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098949 của Công an tỉnh Sơn La, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và điểm chỉ ngón trỏ phải của Hà Văn M cùng hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai.

+ Về án phí: Bị cáo là người dân tộc, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

4

và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của luật sư Nguyễn Bá Linh đối với bị cáo Hà Văn M, từ khi bị bắt, trong suốt quá trình điều tra, truy tố xét xử và cả tại phiên tòa hôm nay bị cáo luôn thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ có khối lượng không lớn, gần với mức khởi điểm của khung hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để ra khi lượng hình có sự cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, lại sống ở bản CN 2, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu là vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của Quốc hội để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để ra một bản án phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, đồng thời thể hiện tính nhân văn của pháp luật nước ta. Tôi cho rằng do bị cáo đã nhận thức được sai lầm của mình, đã thể hiện sự ăn năn hối cải nên vẫn còn có cơ hội cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, một bản án với hình phạt từ 12 tháng đến 14 tháng tù là đã rất nghiêm khắc, đủ để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện QN, Viện kiểm sát nhân dân huyện QN, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,

5

các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện QN lập vào hồi 17 giờ 10 phút, ngày 16/7/2024, bắt quả tang Hà Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, khối lượng 0,25 gam (M khai nhận là Heroine). Kết luận giám định số: 1479/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là A1 = 0,25 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam; loại Heroine (Heroin).

Lời khai của bị cáo về việc ngày 16/7/2024 có mua được 01 gói heroine với giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản CN 1, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện QN, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện QN. Bị cáo Hà Văn M khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện QN truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/7/2024 bị cáo Hà Văn M đã có hành vi tàng trữ 0,25 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ.

[3] Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Hà Văn M tàng trữ khối lượng 0,25 gam Heroine, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

6

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo:

– Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Văn M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 249 BLHS.

– Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Hà Văn M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có ông ngoại là Tòng Văn X là Liệt sỹ hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Do đó, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

– Về nhân thân: Năm 2016 Hà Văn M bị TAND huyện TU, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã thi hành xong các quyết định khác của bản án và đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/02/2018. Tính đến thời điểm phạm tội mới, bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích theo điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội mới. Mặc dù phạm tội mới khi đã được đương nhiên xóa án tích. Xong điều đó thể hiện bị cáo chưa thật sự có ý thức chấp hành pháp luật.

[5] Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật, Hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo biện pháp cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản giá trị lớn, bị cáo hiện đang sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Bản CN, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu) nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về vật chứng vụ án:

Một phong bì công văn của Công an huyện QN được niêm phong, dán kín. Mặt trước phong bì ghi Vật chúng lưu kho vụ Hà Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng + 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở". Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè

7

giấy niêm phong số 098949 của Công an tỉnh Sơn La, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và điểm chỉ ngón trỏ phải của Hà Văn M cùng hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QN. Xét thấy, vật chứng trên là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[8] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QN tại phiên tòa: Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo như bị cáo đã khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ điều tra làm rõ. Vì vậy, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

[10] Về án phí: Bị cáo hiện đang sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Bản CN, xã TH, huyện TU, tỉnh Lai Châu). Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. HĐXX xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn M theo quy định của pháp luật.

[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hà Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hà Văn M 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Hà Văn M.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn của Công an huyện QN được niêm phong, dán kín. Mặt trước phong bì ghi Vật chúng lưu kho vụ Hà Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) mảnh nilon màu hồng + 01 (một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở". Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098949 của Công an tỉnh Sơn La, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia và điểm chỉ ngón trỏ phải của Hà Văn M cùng hai hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QN.

8

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 01/2025 ngày 14/10/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện QN, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo là người dân tộc sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn – Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Văn M.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 06/11/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND (02);
  • - Công an (02);
  • - Trại giam;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - THA hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Luật sư;
  • - Sở tư pháp Sla;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HSST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QN, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger