Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH PHÚ

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 04/01/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Ông Trần Hữu Chí

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú tham gia phiên tòa: ông Phạm Văn Xem - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thiên H, sinh năm 1993; Nơi sinh: tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: số D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: không ổn định; Nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1966 và mẹ bà Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1967; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ lần thứ nhất từ ngày 24/7/2021 đến ngày 30/7/2021; Bị bắt tạm giữ lần thứ hai từ ngày 28/7/2023 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Bến Tre.

Bị cáo có mặt tại tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Phương D, sinh năm 1991. Nơi

cư trú: ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (xin vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • + Đặng Nhựt Y, sinh năm 1998. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (xin vắng mặt)
  • + Nguyễn Văn L, sinh năm 1995. Nơi cư trú: ấp G, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (xin vắng mặt).

- Người chứng kiến:

  • + Phạm Văn D1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  • + Tống Vũ K1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2021, Nguyễn Văn L giao cho Đặng Nhựt Y, Nguyễn Sang E bốn phần ma túy đem đến bến đò Thủ thuộc ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre để bán cho Huỳnh Minh L1, Nguyễn Thiên H, Lê Long T và một người thanh niên tên T1. Trong đó, ma túy để trong hai vỏ bao thuốc lá hiệu S và bao lì xì mỗi phần có giá là 2.000.000 đồng để bán cho L1, H và T1; phần ma túy để trong khẩu trang y tế có giá là 3.800.000 đồng để bán cho Lê Long T. Sau khi nhận ma túy từ L, Y giao cho S Em cất giữ còn Y điều khiển chiếc xuồng nhựa chở S Em đi bến đò Thủ thuộc ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre giao ma túy. Khi xuồng cập bến, S Em đưa cho Y hai phần ma tùy để trong vỏ bao thuốc lá hiệu S và khẩu trang đi lên bờ bán cho H và Long T, còn S Em ngồi tại xuồng và cất giữ số ma túy còn lại. Khi Y mang ma túy lên bờ để bán thì gặp Nguyễn Văn T2 là người được L1 nhờ đi mua ma túy đến đưa cho Y 2.000.000 đồng để mua ma túy, nhận tiền xong Y hướng dẫn T2 đi đến chỗ S Em nhận ma túy, cùng lúc này Nguyễn Thiên H đưa cho Y 2.000.000 đồng và Y giao phần ma túy để trong vỏ thuốc lá cho H; do Lê Long T đem không đủ tiền nên Y không đồng ý giao ma túy mà để phần ma túy xuống bụi cỏ ven đường, Sang E từ dưới xuồng đi lên để lấy phần ma túy này cất giữ thì phát hiện có lực lượng Biên phòng và Công an xã G, huyện T đến nên tất cả bỏ chạy. T2 điều khiển xe

mô tô biển số 71S2-3472 và H điều khiển xe mô tô biển số 59V1-889.52 chạy về hướng Ủy ban nhân dân xã X, Y và S Em chạy bộ xuống xuồng nhựa để tẩu thoát thì T2, H, Y, S Em đều bị bắt giữ cùng tang vật, riêng Lê Long T chạy thoát.

Tại Kết luận giám định số 89/2021/GĐMT ngày 26/7/2021 của Phòng K3 Công an tỉnh B xác định: Tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì A, B, C gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng ma túy trong phong bì A là 2,1485 gam, trong phong bì B là 4,3481 gam và trong phong bì C là 2,1764 gam. Mẫu vật ma túy còn lại sau khi giám định, có khối lượng lần lượt: Mẫu A là 1,9867 gam, mẫu B là 4,1351 gam và mẫu C là 1,8693 gam.

Sau khi bị khởi tố bị can, Nguyễn Thiên H đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre ra Quyết định truy nã, đến ngày 28/7/2023 thì Nguyễn Thiên H ra đầu thú. Qua điều tra, Nguyễn Thiên H cho rằng, chiều 24/7/2021, Trần Phương D đưa 2.000.000 đồng nhờ H đến bến đò Thủ thuộc ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre mua ma túy thì bị bắt. Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ của Trần Phương D 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen để phục vụ điều tra, nhưng với tài liệu thu thập được, không có căn cứ xác định ngày 24/7/2021, Trần Phương D nhờ H đi mua ma túy dùm nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng thu giữ tại hiện trường: Thu trên mặt đường cách H đứng 1,1m một vỏ bao thuốc lá hiệu Saigon, màu vàng, bên trong có một gói nylon màu trắng có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong ký hiệu A); thu tại vị trí của S1 đứng, một khẩu trang y tế được quấn lại bị dính bùn, kiểm tra bên trong phát hiện có hai gói nylon màu trắng, mỗi gói có chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy (được niêm phong ký hiệu B); thu giữ trên xuồng nhựa (võ lãi) một phong bì (loại bao lì xì), bên trong bao phong bì có một gói nylon màu trắng có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong ký hiệu C); thu giữ của Nguyễn Thiên H một xe mô tô hiệu SYM, loại Attila màu xanh, biển số 59V1-889.52 và một điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen; thu giữ của Nguyễn Thanh T3 một xe mô tô hiệu Wave, biển số 71S2-3472 và một điện thọai di động hiệu OPPO; thu giữ của Đặng Nhựt Y một điện thoại di động hiệu Redmi màu xám đen và 4.000.000 đồng. Ngoài ra, tại hiện trường còn thu giữ một xuồng

nhựa, loại vỏ Composite, hiệu KGC, gắn một động cơ máy nổ sử dụng nhiên liệu xăng không rõ nhãn hiệu và một dao tự chế để trong khoang xuồng có tổng chiều dài 57 cm, cán dao bằng nhựa dài 17cm, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao là 07cm, phần hẹp nhất là mũi dao.

Tiến hành test nhanh xác định Nguyễn Thiên H, Nguyễn Sang E, Đặng Nhựt Y dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thiên H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thiên H trình bày: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, nhục hình, lời khai của bị cáo trong hồ sơ là tự nguyện. Bị cáo thừa nhận hành vi bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy như lời khai của bị cáo trong hồ sơ.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, bảo lưu toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thiên H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên H từ 01 năm đến 02 năm tù. Nhưng được trừ 07 ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 24/7/2021 đến ngày 30/7/2021). Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023.

Về vật chứng:

Hoàn trả cho Trần Phương D 01 xe mô tô hiệu SYM, loại Attila màu xanh, biển số 59V1-889.52, số máy ACD-041217, số khung DDD-041217; 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen được niêm phong ghi chữ “ Điện thoại của Trần Phương V” có chữ ký, ghi tên Phan Văn Chí L2, Mai Phước L3, Trần Phương D và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ của Trần Phương D.

Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thiên H 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen được niêm phong ghi chữ “ Điện thoại của Nguyễn Thiên H” có

chữ ký, ghi tên Trần Công B, Nguyễn Văn D2, Đặng Nhứt Y1, Nguyễn Sang E, Trần Văn T4, Tống Vũ K2, Nguyễn Tuấn L4, Phạm Văn D1, Thái Hoàng N, Nguyễn Thiên H, Nguyễn Thanh T3 và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T

Đối với Nguyễn Văn L, Đặng Nhựt Y, Nguyễn Sang E cùng các đồ vật, vật chứng còn lại đã được xử lý tại Bản án hình sự số 61/2022/HSST ngày 03/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thiên H: Bị cáo biết sai đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhân chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thiên H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lúc 18 giờ 00 phút, ngày 24/7/2021, tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre, Đồn Biên phòng C1 thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh B bắt quả tang Nguyễn Thiên H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý qua Kết luận giám định là loại Methamphetamine có khối lượng là là 2,1485 gam. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Theo Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroin, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.”

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thiên H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về lượng hình: Bị cáo Nguyễn Thiên H khi thực hiện hành vi phạm tội đủ 18 tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma túy, mà còn xâm phạm đến tình hình trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của con người, là một trong những nguyên nhân góp phần làm gia tăng tội phạm trong tình hình hiện nay. Mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực này cần phải được đưa ra xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe, giáo dục, phòng ngửa chung cho toàn xã hội. Ngoài ra, bị cáo thực hiện hành vi trong giai đoạn thực hiện giản cách xã hội. Với tính chất mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, để phục vụ chính trị tại địa phương cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo với hoạt động bình thường bên ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen được niêm phong ghi chữ “ Điện thoại của Trần Phương V” có chữ ký, ghi tên Phan Văn Chí L2, Mai Phước L3, Trần Phương D và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ của Trần Phương D. 01 xe mô tô hiệu SYM, loại Attila màu xanh, biển số 59V1-889.52, số máy ACD-041217, số khung DDD-041217 của Trần Phương D trong quá trình điều tra bị cáo H cho rằng Trần Phương D giao cho bị cáo đi lấy ma túy cho D nhưng Trần Phương D không thừa nhận và trong quá trình điều tra không có căn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Phương D nên hoàn trả cho Trần Phương D.

01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen được niêm phong ghi chữ “ Điện thoại của Nguyễn Thiên H” có chữ ký, ghi tên Trần Công B, Nguyễn Văn D2, Đặng Nhứt Y1, Nguyễn Sang E, Trần Văn T4, Tống Vũ K2, Nguyễn Tuấn L4, Phạm Văn D1, Thái Hoàng N, Nguyễn Thiên H, Nguyễn Thanh T3 và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thiên H.

Đối với Nguyễn Văn L, Đặng Nhựt Y, Nguyễn Sang E cùng các đồ vật, vật chứng còn lại đã được xử lý tại Bản án hình sự số 61/2022/HSST ngày 03/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 bị cáo Nguyễn Thiên H phải nộp án phí sơ thẩm là 200.000 đồng.

[8] Luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị mức hình phạt, đề nghị xử lý vật chứng là thỏa đáng và phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thiên H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiên H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Nhưng được trừ 07 (bảy) ngày bị tạm giữ (từ ngày 24/7/2021 đến ngày 30/7/2021). Thời hạn tù còn lại bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 23 (hai mươi ba) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày 28/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng và các tài sản khác: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Hoàn trả cho Trần Phương D 01 xe mô tô hiệu SYM, loại Attila màu xanh, biển số 59V1-889.52, số máy ACD-041217, số khung DDD-041217; 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen được niêm phong ghi chữ “ Điện thoại của Trần Phương V” có chữ ký, ghi tên Phan Văn Chí L2, Mai Phước L3, Trần Phương D và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Thiên H 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím màu đen được niêm phong ghi chữ “ Điện thoại của Nguyễn Thiên H” có chữ ký, ghi tên Trần Công B, Nguyễn Văn D2, Đặng Nhứt Y1, Nguyễn Sang E, Trần Văn T4, Tống Vũ K2, Nguyễn Tuấn L4, Phạm Văn D1, Thái Hoàng N, Nguyễn Thiên H, Nguyễn Thanh T3 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã G, huyện T.

Theo quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Thiên H phải nộp là 200.000 đồng.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa án tống đạc hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Thạnh Phú (1b);
  • - CA huyện Thạnh Phú (1b)
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Phòng HSNV CA huyện Thạnh Phú (1b);
  • - Chi Cục THADS huyện Thạnh Phú (1b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b);
  • - UBND xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Gang (1b);
  • - Bị cáo (01b);
  • - Lưu: HS; VP; KTNV(5b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Hồng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thiên Hải phạm tôi tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger