Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HSST

Ngày: 05/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Toàn.

Ông Ngô Đức Cường.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hằng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên toà: Bà Tăng Ngọc Kim Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 263/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2023/QĐXXST- HS ngày 03/11/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 09/TB-TA ngày 13 tháng 11 năm 2023 và đối với các bị cáo:

1. Khuất Đình L, sinh ngày 20/04/1997 tại Phú Thọ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: P ngõ A K, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Nghề Nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông: Khuất Đình Đ, sinh năm: 1970; Con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Lê Thị Thu H, sinh năm: 2000; Con: Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. D bản, chỉ bản số 359 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận C lập ngày 20/6/2023. Bị cáo ra đầu thú ngày 11/6/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Văn L2, sinh ngày 01/01/1986 tại Nam Định; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: Tổ F thị trấn L, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: P ngõ A K, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Nghề Nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông: Phạm Mạnh H1, sinh năm: 1949; Con bà: Dương Thị R, sinh năm 1950; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình. D bản, chỉ bản số 358 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận C lập ngày 20/6/2023. Bị cáo ra đầu thú ngày 11/6/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Phạm Văn L3, sinh ngày 19/12/1994 tại: Nam Định; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: Tổ F thị trấn L, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Ngõ A K, phường P, quận B, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; T: Không; Nghề Nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Con ông: Phạm Văn H2, sinh năm 1964; Con bà: Dương Thị L4 - sinh năm 1962; Gia đình có 04 (Bốn) anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/02/2021, Công an huyện Ý, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. D bản, chỉ bản số 403 do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận C lập ngày 20/6/2023. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/6/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 11/06/2023, tổ công tác Công an phường Y làm nhiệm vụ tại trước khu vực số nhà D Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội phát hiện Phạm Văn L3 đang dừng, đỗ xe mô tô, biển kiểm soát: 36B5 - 49127 trao đổi với Nguyễn Hùng C (Sinh năm: 2002, HKTT: Tổ A, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an đã phát hiện thu giữ trong áo chống nắng để ở giữa xe mô tô có 06 (Sáu) túi nilon kích thước (5x8) cm bên trong mỗi túi có chứa thảo mộc khô. Ngoài ra, cơ quan Công an còn tạm giữ của L3 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát: 36B5 - 49127, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Philip màu đen, 01 (Một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, tạm giữ của C 01 (Một) điện thoại N và số tiền 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tại Công an phường Y, L3 khai số ma túy bị cơ quan Công an thu giữ có nguồn gốc của Khuất Đình L và Phạm Văn L2 đưa cho L3 đi giao bán cho khách. Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải L3 đến nơi ở của L2 tại P ngõ A K, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội để tiến hành kiểm tra, xác minh. Tại đây, L2 đã giao nộp cho Cơ quan Công an 37 (Ba mươi bảy) túi nilon kích thước (5x8) cm bên trong có thảo mộc khô, 01 (Một) túi nilon màu vàng kích thước (15x20) cm bên trong mỗi túi có chứa thảo mộc khô và 01 túi nilon màu trắng kích thước (15x20) cm bên trong chứa thảo mộc khô, 02 (Hai) cân điện tử, 01 (Một) điện thoại di động Iphone 5S màu ghi xám có nguồn gốc của L.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/6/2023, Khuất Đình L đến Công an phường đầu thú hành vi phạm tội và giao nộp 01 (Một) điện thoại di động Sam Sung A31 vỏ ngoài màu xanh; 01 (Một) điện thoại di động Galaxy A51.

Tại kết luận giám định số 3921/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:

* Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn L5:

- Thảo mộc khô bên trong 06 (Sáu) túi nilon đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 22,470 gam.

* Tang vật thu giữ của Phạm Văn L2:

- Thảo mộc khô bên trong 37 (Ba mươi bảy) túi nilon, 01 (Một) túi nilon màu vàng kích thước (15x20) cm và 01 (Một) túi nilon màu trắng kích thước (15x20) cm đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng 486,690 gam.

Tại cơ quan điều tra, Khuất Đình L, Phạm Văn L3, Phạm Văn L2 khai nhận hành vi phạm tội, về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ L, L3, L2 khai: Ngày 9/6/2023, tại trước khu vực số nhà B ngõ A K, P, B, Hà Nội. Khuất Đình L gặp và mua 500 gam thảo mộc khô có chứa ma túy với giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) của một người đàn ông không quen biết sử dụng Facebook “Thánh Bê T” mục đích để bán kiếm lời. Mua xong, L mang về P401 số 2 ngõ A K, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội rồi chia thảo mộc khô chứa ma túy vào nhiều túi ni lông màu trắng để bán cho khách và đăng thông tin bán ma túy trên Facebook “T2” Sau đó, L đặt vấn đề thuê Phạm Văn L3 và Phạm Văn L2 đi giao bán ma túy cho L, L3 và L2 đồng ý và thỏa thuận mỗi lần giao ma túy cho khách sẽ được trả tiền ship 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) - 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng). Khoảng 12 giờ 00 ngày 11/6/2023, L đang ngồi cùng L2 tại phòng trọ thì đối tượng Nguyễn Hùng C sử dụng Zalo “Thị Hằng” liên hệ với L đặt mua 02 (Hai) túi thảo mộc khô chứa ma túy với giá 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng), C đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu vực trước số nhà D Y. Do bận đi công việc nên L bảo L2 liên hệ với L3 đi giao 02 (Hai) túi ma túy cho C và đưa cho L2 điện thoại di động Iphone 5S có tài khoản Zalo “Mao Tiến” để sử dụng liên hệ bán ma túy cho Z “Thị Hằng”, đồng thời L treo 01 (Một) túi ni lông bên trong có 06 (Sáu) túi ni lông thảo mộc khô chứa ma túy vào móc treo của xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 36B5 - 491.27 để L3 sử dụng đi giao ma túy cho C. Sau đó, L2 gọi L3 qua Phòng 401 số nhà B ngõ A K giao cho L3 01 (Một) điện thoại Iphone 8 Plus của L2 có tài khoản Zalo “Danh Lợi”. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, thì Z “Thị Hằng” liên lạc vào tài khoản Z “Mao Tiến” yêu cầu giao ma túy thì L2 có nhắn tin vào tài khoản Z “Danh Lợi” cho L3 bảo L3 đi giao ma túy cho Z “Thị Hằng”. L3 đã sử dụng xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 36B5-491.27 đã treo sẵn 06 (Sáu) túi nilon chứa thảo mộc khô có ma túy để đi giao cho khách, khi đến trước khu vực số nhà D Y thì L3 dừng, đỗ xe mô tô đang chuẩn bị giao ma túy cho C sử dụng Zalo “Thị Hằng” thì bị Công an phường Y phát hiện, kiểm tra, bắt giữ.

Quá trình điều tra, xác định ngoài hành vi phạm tội nêu trên thì Khuất Đình L còn có hành vi: Ngày 10/6/2023, L đã thuê nam thanh niên “G1” mang 02 (Hai) túi ni lông chứa thảo mộc khô có ma túy bán cho tài khoản Zalo “Thị Hằng” với giá 260.000 đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tại khu vực trước số nhà D Y, phường Y, quận C, Hà Nội. Ngoài ra, từ tháng 5/2023 đến khi bị bắt, L còn nhiều lần thuê G1 đi giao bán thảo mộc khô có ma túy cho các khách hàng tại địa bàn Thành phố Hà Nội thu lợi bất chính số tiền khoảng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Kết quả điều tra, xác định xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 36B5-491.27 đứng tên đăng ký xe là anh Hà Ngọc L6 (HKTT: Thôn A, Q, Thanh Hóa, Thanh Hóa). Kết quả xác minh tại Công an phường Q hiện anh H3 vắng mặt nơi cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định tách chiếc xe mô tô trên để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra, L3 và L2 còn khai nhận đã một số lần đi bán ma túy thuê cho L6 nhưng không nhớ cụ thể. Căn cứ vào kết quả điều tra xác định ngoài lời khai của L3, L2 thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác đủ cơ sở kết luận L3, L2 nhiều lần thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.

Về đối tượng bán ma túy cho L6 sử dụng số tài khoản Facebook “Thánh Bê Tổng”, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Đối với Nguyễn Hùng C mua ma túy của L6, L2, L3 mục đích để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy nên không đề cập xử lý.

Cáo trạng số 313/CT-VKSCG ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo Phạm Văn L3 và bị cáo Phạm Văn L2 tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Khuất Đình L tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Khuất Đình L, xử phạt bị cáo Khuất Đình L mức án từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T1) năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Văn L2, xử phạt bị cáo Phạm Văn L2 mức án từ 30 (Ba mươi) tháng đến 34 (Ba mươi tư) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Văn L3, xử phạt bị cáo Phạm Văn L3 mức án từ 30 (Ba mươi) tháng đến 34 (Ba mươi tư) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về tang vật đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L3; 01(Một) hộp giấy màu nâu được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L2;

- Tịch thu sung hủy: 01 (Một) phong bì được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L3; 01(Một) hộp giấy màu nâu được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L2;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 02 (Hai) cân điện tử; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen lắp sim 0586821937; 01(Một) điện thoại di động Iphone 8plus màu đen lắp sim 0933256262, 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime lắp sim số 0876912002; 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 5 màu ghi xám; 01 (Một) điện thoại di động S; 01 (Một) điện thoại di động S1 lắp sim số 0978012237.

- Buộc bị cáo Khuất Đình L phải truy nộp số tiền mà bị cáo thu lợi bất chính là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Về dân sự: không.

Tại phiên toà: Các bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Khuất Đình L trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Bị cáo Phạm Văn L2 trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Bị cáo Phạm Văn L3 trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn nhận được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 11/6/2023, tại trước khu vực số nhà D Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an phường Y bắt quả tang Phạm Văn L3 có hành vi tàng trữ trái phép 22,470 gam thảo mộc khô có ma túy ADB-BUTINACA để bán cho đối tượng sử dụng Zalo “Thị Hằng” mục đích kiếm lời. Tại cơ quan Công an, Phạm Văn L2, Khuất Đình L đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ tại phòng D ngõ A K, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội số thảo mộc khô có ma túy là 486,690 gam thảo mộc khô ADB-BUTINACA có nguồn gốc của Khuất Đình L mua về mục đích để bán kiếm lời.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên: Ngày 10/6/2023, Khuất Đình L còn có hành vi thuê G bán 02 (Hai) túi ni lông chứa thảo mộc khô có ma túy cho tài khoản Z “T” với giá 260.000 đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tại khu vực trước số nhà D Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Ngoài ra, L còn nhiều lần thuê G1 đi giao bán thảo mộc khô có ma túy cho các khách hàng tại địa bàn Thành phố Hà Nội thu lợi bất chính số tiền khoảng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Khuất Đình L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Phạm Văn L2 và bị cáo Phạm Văn L3, hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Văn L2 và bị cáo Phạm Văn L3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Nhận xét về vai trò, nhân thân và lượng hình đối với các bị cáo, HĐXX nhận định:

Đối với bị cáo Khuất Đình L: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Ngoài hành vi phạm tội ngày 11/6/2023 thì ngày 10/6/2023 bị cáo L còn có hành vi thuê G bán 02 túi ni lông chứa thảo mộc khô có ma túy cho tài khoản Z “Thị Hằng” (Không rõ lai lịch) với giá 260.000 đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tại khu vực trước số nhà D Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội và L còn nhiều lần thuê G1 đi giao bán thảo mộc khô có ma túy cho các khách hàng tại địa bàn Thành phố Hà Nội thu lợi bất chính số tiền khoảng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Từ căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã nhiều lần bán ma túy loại ADB-BUTINACA cho các đối tượng nghiện khác. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Tính chất hành vi phạm tội thể hiện: Bị cáo là một người đã trưởng thành nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và cộng đồng, mà lại có hành vi vi phạm có liên quan đến ma túy. Do đó, đối với bị cáo cần có mức án nghiêm khắc, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, hành vi của bị cáo Khuất Đình L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung cấu thành tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.

Tuy nhiên, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, có đơn xin đầu thú và bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Phạm Văn L2: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Tính chất hành vi phạm tội thể hiện: Bị cáo là một người đã trưởng thành nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và cộng đồng, mà lại có hành vi vi phạm có liên quan đến ma túy. Do đó, đối với bị cáo cần có mức án nghiêm khắc, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, có đơn xin đầu thú và bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Phạm Văn L3: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/6/2023; Biên bản ghi lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Tính chất hành vi phạm tội thể hiện: Bị cáo là một người đã trưởng thành nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và cộng đồng, mà lại có hành vi vi phạm có liên quan đến ma túy. Do đó, đối với bị cáo cần có mức án nghiêm khắc, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, khi lượng hình hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải và bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX.

[4] Về tang vật: Áp dụng Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L3; 01(Một) hộp giấy màu nâu được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L2;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 02 (Hai) cân điện tử; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen lắp sim 0586821937; 01(Một) điện thoại di động Iphone 8plus màu đen lắp sim 0933256262, 01 (Một) điện thoại S2 J7 Prime lắp sim số 0876912002; 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 5 màu ghi xám; 01 (Một) điện thoại di động S; 01 (Một) điện thoại di động S1 lắp sim số 0978012237.

- Ngày 10/6/2023, Khuất Đình L còn có hành vi thuê G bán 02 (Hai) túi ni lông chứa thảo mộc khô có ma túy cho tài khoản Z “T” với giá 260.000 đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tại khu vực trước số nhà D Y, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Ngoài ra, L còn nhiều lần thuê G1 đi giao bán thảo mộc khô có ma túy cho các khách hàng tại địa bàn Thành phố Hà Nội thu lợi bất chính số tiền khoảng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Do đó, truy thu số tiền mà bị cáo Khuất Đình L đã thu lợi bất chính là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

[5] Về dân sự: Không.

[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các Bị cáo Khuất Đình L, Phạm Văn L2Phạm văn L7 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Khuất Đình L 08 (T1) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L2 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2023.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L3 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an và Phạm Văn L3; 01(Một) hộp giấy màu nâu được dán kín, trên các mép của hộp giấy có chữ ký của giám định viên, cán Bộ Công an và Phạm Văn L2;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 02 (Hai) cân điện tử; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Philips màu đen lắp sim 0586821937; 01(Một) điện thoại di động Iphone 8plus màu đen lắp sim 0933256262, 01 (Một) điện thoại S2 J7 Prime lắp sim số 0876912002; 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 5 màu ghi xám; 01 (Một) điện thoại di động S; 01 (Một) điện thoại di động S1 lắp sim số 0978012237.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 068/GN/THA-CA ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giây).

- Buộc bị cáo Khuất Đình L phải có nghĩa vụ truy nộp 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy

3. Về dân sự: Không.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Khuất Đình L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn L3 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Văn L2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP. Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ, lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HSST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger